Thực hành tiết kiệm - Ý thức và văn hóa

"Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão" – câu tục ngữ xưa không chỉ dạy ta biết quý trọng từng đồng xu, từng hạt thóc, mà còn chất chứa một triết lý phát triển sâu xa: sức mạnh lớn luôn khởi nguồn từ những tiết kiệm nhỏ.

 

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ là một lời hiệu triệu đạo đức, mà còn là một định hướng chiến lược về quản trị quốc gia hiện đại – nơi tiết kiệm được nhìn nhận như một giá trị nền tảng, một năng lực thiết yếu và một động lực quan trọng để đi tới thịnh vượng.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với khát vọng hùng cường ngày một rõ nét, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chọn đúng thời điểm để công bố bài viết "Thực hành tiết kiệm". Bài viết không chỉ là một lời hiệu triệu đạo đức, mà còn là một định hướng chiến lược về quản trị quốc gia hiện đại – nơi tiết kiệm được nhìn nhận như một giá trị nền tảng, một năng lực thiết yếu và một động lực quan trọng để đi tới thịnh vượng. Tiết kiệm phải trở thành văn hóa, phải giáo dục về ý thức tiết kiệm đối với mỗi công dân.

Tiết kiệm – Một phẩm chất văn hóa cốt lõi của dân tộc Việt Nam

Tiết kiệm không phải là khái niệm ngoại nhập. Nó là tinh thần đã được tôi luyện qua những tháng năm thiếu thốn, qua truyền thống "thắt lưng buộc bụng" để nuôi chí lớn. Trong những năm chiến tranh, đất nước ta đã chiến thắng không chỉ nhờ lòng dũng cảm, mà còn nhờ biết dành từng hạt gạo, từng hạt muối cho tiền tuyến.

Tổng Bí thư đã khéo léo khơi dậy dòng mạch ấy khi dẫn lại lời Bác Hồ: "Tiết kiệm là quốc sách, là sức mạnh của dân tộc." Tiết kiệm là giá trị sống – một dạng "trí tuệ thực tiễn" mà người Việt đã sớm tích lũy. Chính vì thế, thực hành tiết kiệm là sự trở về với bản chất tốt đẹp của văn hóa dân tộc.

Tiết kiệm – Nguyên lý phát triển và thước đo của năng lực quản trị

Tư tưởng chủ đạo của bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm nằm ở một điểm đột phá: tiết kiệm và chống lãng phí không chỉ là trách nhiệm cá nhân, mà là phương thức quản trị quốc gia. Khi Tổng Bí thư viết: "Tiết kiệm là trụ cột để đi tới thịnh vượng", ông đang nâng tiết kiệm lên tầm một nguyên lý phát triển, chứ không chỉ là một lời răn dạy đạo đức thông thường.

Các quốc gia tiên tiến đều thấu hiểu điều này. Singapore – từ một hòn đảo nhỏ không tài nguyên, đã trở thành trung tâm tài chính – nhờ vào khả năng "tiết kiệm thông minh": tiết kiệm không gian, tiết kiệm chi phí quản trị, tiết kiệm thời gian của doanh nghiệp bằng chính sách minh bạch, hiệu quả. Nhật Bản – đất nước chịu nhiều thiên tai – cũng xây dựng một văn hóa tiết kiệm đến tận tế bào xã hội. Tiết kiệm trở thành chuẩn mực sống và là công cụ để phòng ngừa rủi ro.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo phòng, chống lãng phí.

Việt Nam – một đất nước còn đang phát triển – lại càng cần tiết kiệm như một lẽ sống và một chiến lược. Mỗi đồng vốn chi ra từ ngân sách, nếu không được giám sát chặt chẽ, sẽ là sự lãng phí không chỉ về vật chất, mà còn là sự xói mòn lòng tin của nhân dân. Vì thế, như Tổng Bí thư khẳng định, tiết kiệm là "một chuẩn mực của đạo đức công vụ" và cũng là chỉ báo về năng lực điều hành, lãnh đạo.

Chống lãng phí – Trận tuyến mới của kỷ cương

Một trong những luận điểm sắc sảo nhất của bài viết là: "Lãng phí nguy hiểm không kém tham nhũng." Đây là sự thật thường bị che mờ. Người ta dễ thấy tham nhũng vì nó có tên, có mặt, có hình thức tư lợi rõ ràng. Nhưng lãng phí thì ẩn mình trong hệ thống: trong các công trình đội vốn, trong quy hoạch treo, trong những hội nghị không cần thiết, trong hệ thống thủ tục chồng chéo và bộ máy cồng kềnh.

Tổng Bí thư không dừng lại ở "chẩn đoán", mà đã đưa ra con số minh chứng đầy thuyết phục: việc tinh gọn tổ chức bộ máy giúp tiết kiệm hơn 20.000 tỷ đồng mỗi năm – và con số này có thể lên tới 30.000 tỷ đồng từ sau năm 2030. Tiết kiệm, trong quan điểm của người đứng đầu Đảng, phải được lượng hóa, giám sát và định chế hóa.

Lãng phí là "kẻ thù giấu mặt" của phát triển. Nó rút ruột nguồn lực quốc gia mà nhiều khi không để lại chứng cứ cụ thể. Do đó, chống lãng phí không chỉ là nhiệm vụ hành chính – mà là một trận tuyến kỷ cương: nơi đòi hỏi sự tự soi, tự sửa của từng cán bộ, từng đơn vị; nơi cần sự lên tiếng và giám sát của nhân dân.

Tiết kiệm không phải là co lại, mà là tạo ra dư địa để đầu tư đúng nơi, đúng lúc, hiệu quả nhất.

Tiết kiệm là biểu hiện của tầm nhìn và tinh thần kiến tạo

Trong bối cảnh nguồn lực có hạn nhưng kỳ vọng lại rất lớn, thực hành tiết kiệm trở thành lối đi thông minh nhất. Một quốc gia vươn lên không phải bằng cách chi tiêu nhiều, mà bằng cách sử dụng thông minh những gì mình có. Nhưng tiết kiệm không phải là co lại, mà là tạo ra dư địa để đầu tư đúng nơi, đúng lúc, hiệu quả nhất.

Đặc biệt, bài viết đã đặt ra một yêu cầu quan trọng: phải tiết kiệm bằng cả hệ thống – từ thể chế, bộ máy, thủ tục đến văn hóa công vụ. Không thể có tiết kiệm nếu luật pháp còn sơ hở, nếu tổ chức còn trùng lắp, nếu cán bộ còn hành xử vô trách nhiệm. Muốn tiết kiệm thật, phải dũng cảm cải cách thật.

Ở tầm cao ấy, tiết kiệm chính là biểu hiện của tư duy kiến tạo và năng lực hoạch định chiến lược. Một người lãnh đạo giỏi không chỉ tạo ra thêm tài nguyên, mà còn biết bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên đã có.

Tiết kiệm để đi xa, chống lãng phí để đi đúng

Bài viết "Thực hành tiết kiệm" của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ khơi dậy một giá trị đạo đức truyền thống, mà còn mở ra một tư duy phát triển hiện đại. Nó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo lý và kỹ trị, giữa bản sắc và cải cách.

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà từng đồng ngân sách, từng tấc đất, từng giờ làm việc đều phải được tính toán như nguồn lực chiến lược. Tiết kiệm – nếu được thực hành từ trái tim đến thể chế – sẽ không chỉ làm giàu quốc gia, mà còn làm giàu lòng tin, kỷ luật và văn minh.

Và vì thế, tiết kiệm không thể chỉ là một chiến dịch. Nó phải trở thành một tinh thần quốc dân – lan tỏa từ người lãnh đạo cao nhất cho đến từng công chức, từng doanh nhân, từng người dân bình thường. Đó là con đường chắc chắn nhất để đất nước phát triển giầu mạnh, văn minh, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc.

 

Lượt xem: 99

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.