Tổng Bí thư Tô Lâm: Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới

Chiều 17/6, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có buổi trao đổi với Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (lớp thứ tư) về mục tiêu tầm nhìn và một số chủ trương, giải pháp đột phá cần tập trung thực hiện để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Cùng dự có đồng chí: Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng…

Xác định mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước

Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi với Lớp Bồi dưỡng cán bộ quy hoạch Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV (Lớp thứ tư). Ảnh: Văn Điệp/TTXVN

Về mục tiêu, tầm nhìn và những yêu cầu xuyên suốt trong phát triển đất nước giai đoạn hiện nay, tại buổi trao đổi, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, chúng ta đang trong tiến trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dưới ngọn cờ dẫn dắt của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Trong đó Cương lĩnh xác định mục tiêu tổng quát và mục tiêu định hướng.

Để cụ thể hóa các mục tiêu này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định 2 mục tiêu 100 năm của đất nước, cụ thể là: Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước Xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.

Tổng Bí thư cho biết, thời gian qua, chúng ta đã thống nhất về tầm nhìn kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh của đất nước từ Đại hội XIV của Đảng; thống nhất không thay đổi, mà phải nhất quán, quyết tâm thực hiện hai mục tiêu đến năm 2030 và 2045 mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định.

Tổng Bí thư lưu ý, đây là bài toán rất khó, đòi hỏi phải rất trăn trở, rất trí tuệ, rất thực tiễn để tìm câu trả lời. Phải có những nỗ lực trên mức bình thường và phải có các giải pháp đột phá để “đi tắt, đón đầu” mới làm được. Quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng đạt ít nhất 8% trở lên trong năm 2025, tạo nền tảng để tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới. Đây là những mục tiêu bắt buộc phải thực hiện không còn con đường nào khác.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, các nhiệm kỳ Đại hội đều hướng đến 3 yêu cầu: Ổn định, phát triển và nâng cao đời sống nhân dân. Ba yêu cầu này thể hiện sự nhận thức đầy đủ, sâu sắc của Đảng ta về mối quan hệ biện chứng giữa “ổn định để phát triển” và “phát triển để ổn định”. Đồng thời, mục tiêu cuối cùng là nâng cao đời sống nhân dân, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng lên của người dân - đây chính là một trong những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng.

Trọng tâm hiện nay là phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững; xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; khơi thông mọi nguồn lực để phát triển đất nước. Trong năm 2025, nhiều chủ trương, chính sách đã được Trung ương triển khai để thực hiện yêu cầu này như: Ban hành các Nghị quyết của Bộ Chính trị để tạo đột phá trong những vấn đề then chốt, nhất là 4 Nghị quyết quan trọng: Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59 về tăng cường hội nhập quốc tế; Nghị quyết 66 về đổi mới và hoàn thiện thể chế; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân...

Tăng cường hoàn thiện về hạ tầng như hạ tầng giao thông; hạ tầng số; hạ tầng năng lượng điện; xây dựng trung tâm tài chính quốc tế tại TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, các khu thương mại tự do. Tăng cường chống lãng phí gắn với phòng chống tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo rà soát các dự án có khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ, gây lãng phí... Bộ Chính trị đã cho nguyên tắc giải quyết vấn đề này, các cơ quan chức năng đang tích cực triển khai thực hiện.

Tổng Bí thư nêu rõ, còn nhiều việc phải làm để đời sống nhân dân được tốt hơn. Trong thời gian tới, Bộ Chính trị sẽ tiếp tục bàn các giải pháp để tạo đột phá trong hai vấn đề căn bản liên quan đến đời sống nhân dân: Đổi mới nâng cao hiệu quả hệ thống y tế, chuyển mạnh từ phòng bệnh sang chữa bệnh, giảm chi phí y tế cho người dân tiến tới miễn phí toàn dân; tạo đột phá trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chăm lo xây dựng lớp người mới cho giai đoạn tiếp theo của đất nước.

Thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp đột phá

Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi với Lớp Bồi dưỡng cán bộ quy hoạch Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV (Lớp thứ tư). Ảnh: Văn Điệp/TTXVN

Về một số chủ trương, giải pháp đột phá, Tổng Bí thư cho biết, Trung ương đã và đang tập trung chỉ đạo đồng thời thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp đột phá.

Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính. Hiện nay, các cấp các ngành đã rất tích cực triển khai thực hiện, nhiều công việc vượt tiến độ đề ra. Bộ Chính trị đã quyết định chủ trương thực hiện đồng bộ, thống nhất chủ trương này trong phạm vi toàn quốc bắt đầu từ 1/7/2025.

Đổi mới, hoàn thiện thể chế, Tổng Bí thư nhấn mạnh, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đề ra mục tiêu: Năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ “điểm nghẽn” do quy định của pháp luật. Năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm pháp lý đồng bộ cho bộ máy nhà nước theo mô hình 3 cấp. Năm 2028, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN. Tầm nhìn đến 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại... được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57, xác định rõ: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là động lực chủ yếu thúc đẩy hiện đại hóa đất nước, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã được xã hội đồng tình ủng hộ, đón nhận với sự kỳ vọng đột phá để phát triển đất nước. Qua 5 tháng thực hiện, Ban Chỉ đạo Trung ương đã đánh giá trên thực tế hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thời gian qua đã có chuyển động từ ý tưởng, nghiên cứu đến ứng dụng, nhưng vẫn chưa tạo được sự đột phá sôi động.

Trong thời gian tới, Ban Chỉ đạo Trung ương về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 600 nhiệm vụ cụ thể đã đề ra. Những nhiệm vụ này được kiểm đếm hàng tuần, hàng tháng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải chỉ đạo quyết liệt, cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động thiết thực; đồng thời xác định trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện, bảo đảm sự chuyển biến thực chất trong toàn hệ thống.

Tổng Bí thư khẳng định, chúng ta đã được quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Xác định “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Cần phân biệt rõ giữa kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Nhà nước có đầy đủ nguồn lực, công cụ để điều tiết, bảo đảm nền kinh tế theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tổng Bí thư cho biết, để chủ động hội nhập sâu rộng hơn nữa, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59 về tăng cường hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết thể hiện tầm nhìn sâu sắc: hội nhập quốc tế không chỉ là mở cửa, giao lưu, mà là một sự nghiệp tổng hợp, đòi hỏi sự chủ động, tích cực và rất có bản lĩnh. Phải nhận thức sâu sắc rằng hội nhập không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan đối ngoại, không chỉ là hoạt động đối ngoại nhà nước, mà là một quá trình tổng hợp, yêu cầu sự tham gia chủ động, tích cực, sáng tạo của toàn hệ thống chính trị, của từng người dân, từng doanh nghiệp, từng ngành nghề, từng lĩnh vực.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, các yêu cầu về công tác xây dựng Đảng đã rất cao, nay lại càng đòi hỏi cao hơn trước yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong kỷ nguyên mới. Đỏi hỏi Đảng ta phải không ngừng cải tiến phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền; nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện mình; xây dựng đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” như lời Bác Hồ đã căn dặn.

Một trong những nội dung then chốt của then chốt trong công tác xây dựng Đảng là công tác cán bộ. Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề “rất trọng yếu”, “quyết định mọi việc”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đang đặt ra cấp thiết.

Lượt xem: 97

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.