Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số

(Baohatinh.vn) - Báo và phát thanh, truyền hình Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số.

Tô Lâm - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của nhân dân làm điểm xuất phát. Ảnh: TTXVN.

Sau hơn một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển rất mới, rất khác trên hầu hết các phương diện. Không gian số đã trở thành một thành tố thiết yếu của đời sống thực hằng ngày. Công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới đã làm thay đổi tận gốc cách thông tin được tạo ra, phân phối, tiếp nhận và kiểm chứng.

Ngày nay, người dân học tập, làm việc, giao tiếp, mua bán, giải trí, bày tỏ quan điểm và tham gia các vấn đề xã hội qua các nền tảng trực tuyến. Dòng chảy thông tin nhanh và đa dạng đem lại cơ hội lớn cho phổ biến tri thức, cho dân chủ xã hội và đổi mới sáng tạo. Các chủ trương lớn của Đảng, chính sách mới của Nhà nước, các thông tin tích cực có thể đến cùng lúc với hàng chục triệu người bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau. Công nghệ giúp báo chí gần người dân hơn và nhận phản hồi nhanh hơn.

Tuy nhiên, môi trường mạng cũng khiến đời sống thông tin phức tạp hơn, dễ bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời, tin sai lệch, thao túng thuật toán và những hoạt động tán phát thông tin có chủ đích. Tin giả, tin nửa đúng nửa sai, mập mờ, hình ảnh và âm thanh giả mạo, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, xâm phạm bản quyền, tấn công mạng và đánh cắp dữ liệu diễn ra ngày càng tinh vi. Thông tin sai có thể lan xa trước khi sự thật kịp được kiểm chứng. Tình trạng phát ngôn bị cắt ghép có thể làm tổn hại uy tín cá nhân, tổ chức, thậm chí ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chụp ảnh lưu niệm với các đại biểu tại buổi gặp mặt 101 nhà báo tiêu biểu đoạt Giải Báo chí quốc gia qua các năm.

Trong trật tự truyền thông mới, báo chí không còn giữ vị trí gần như độc quyền phát tin. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng Internet, tương đương 84,2% dân số, và khoảng 79 triệu định danh người dùng mạng xã hội. Theo thống kê gần nhất, tổng số tài khoản người Việt sử dụng mạng xã hội trong nước khoảng 110 triệu, trong khi tài khoản trên các mạng xã hội nước ngoài khoảng 203 triệu. Môi trường số như vậy giúp báo chí vừa có cơ hội tiếp cận công chúng rộng hơn bao giờ hết, vừa phải cạnh tranh trực tiếp với dòng nội dung khổng lồ do các nền tảng và người dùng tạo ra từng giờ, từng phút. Trên không gian số, hầu như mọi cá nhân đều có thể đưa tin. Các tài khoản mạng xã hội đều có thể tạo ảnh hưởng trong một cộng đồng nhất định.

Tuy nhiên, sự thay đổi đó không làm giảm vai trò của báo chí cách mạng. Trái lại, khi thông tin quá nhiều, xã hội càng cần những địa chỉ đáng tin cậy để xác định điều gì đúng, điều gì còn phải kiểm chứng, điều gì chỉ là cảm xúc đám đông hoặc sự sắp đặt có chủ ý. Điều đó đòi hỏi sự chuyên nghiệp, thái độ lao động nghề nghiệp nghiêm túc và bản lĩnh trước mọi sức ép. Báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy, không phải nơi chạy theo xu hướng. Xã hội cần nơi tin cậy để hiểu đúng sự thật. Người dân cần biết việc gì đã xảy ra, vì sao xảy ra, tác động đến ai, trách nhiệm thuộc về đâu và giải pháp nào có cơ sở.

Không gian số cũng cần có những tác phẩm báo chí giàu về dữ liệu, đa dạng về nội dung, phong phú cách diễn đạt, sâu về phân tích chính sách. Nhiều vấn đề hiện nay, từ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách hành chính, chính sách an sinh đến biến động kinh tế quốc tế, đều khó nắm bắt nếu chỉ đọc những mẩu tin rời rạc. Vì vậy, trách nhiệm của báo chí không chỉ là nhanh hơn, mà trước hết phải đúng hơn, sâu sắc hơn, có ích hơn.

Từ yêu cầu đó, chuyển đổi số báo chí không thể hiểu đơn giản là lập thêm trang điện tử, mở tài khoản mạng xã hội hay trang bị thiết bị hiện đại. Đó phải là cuộc đổi mới toàn diện về tư duy lãnh đạo, mô hình tòa soạn, quy trình sản xuất, quản trị dữ liệu, phân phối nội dung, đo lường công chúng, kinh tế báo chí và văn hóa nghề nghiệp. Báo chí số không phải là báo chí cũ đặt lên nền tảng mới, mà là cách tổ chức mới trong bối cảnh mới.

Trong tòa soạn, mỗi tác phẩm cần được nhìn như một sản phẩm thông tin có mục tiêu rõ ràng. Mọi hình thức thể hiện phải cùng tuân thủ một chuẩn mực: chính xác, nhân văn, có kiểm chứng, có trách nhiệm. Cần tránh tình trạng nghiêm túc trên trang chính nhưng dễ dãi trên nền tảng phụ. Báo chí càng đa nền tảng, càng phải thống nhất chuẩn mực.

Trong thời đại số, dữ liệu là một trụ cột của báo chí. Dữ liệu không chỉ là con số; đó là nền tảng của kiểm chứng và phương tiện để xây dựng và chuyển tải các tác phẩm báo chí một cách thuyết phục hơn, toàn diện hơn. Các cơ quan thông tấn, báo chí lớn, uy tín trên thế giới hiện đều đầu tư rất lớn cho việc xây dựng dữ liệu và dành nguồn nhân lực đáng kể cho công tác dữ liệu. Khi dữ liệu được xây dựng và quản trị tốt, báo chí sẽ tăng sức thuyết phục và có khả năng phát hiện vấn đề từ sớm.

Hội Nhà báo Hà Tĩnh trao thưởng Giải Báo chí Trần Phú năm 2025 - vinh danh 34 tác phẩm xuất sắc.

Một vấn đề lớn khác là quyền chủ động trước các nền tảng xuyên biên giới. Báo chí cần tiếp cận được nơi công chúng hiện diện qua mọi nền tảng, nhưng không thể để lệ thuộc vào thuật toán bên ngoài. Nếu chỉ chạy theo lượt xem và cơ chế đề xuất, cơ quan báo chí dễ mất dữ liệu độc giả, mất quyền phân phối, mất bản sắc và chịu rủi ro khi thuật toán thay đổi. Làm chủ không gian số nghĩa là biết khai thác các nền tảng toàn cầu, đồng thời xây dựng kênh riêng, cộng đồng độc giả riêng, dữ liệu riêng và thương hiệu tin cậy riêng.

Vì vậy, chủ quyền thông tin quốc gia cần được nhận thức đầy đủ hơn. Báo chí cách mạng phải là lực lượng chủ lực trong bảo vệ chủ quyền ấy. Bảo vệ chủ quyền thông tin không có nghĩa là khép kín. Việt Nam cần một nền báo chí đối ngoại số mạnh, đa ngôn ngữ, đa phương tiện, có khả năng chuyển tải thông điệp của Việt Nam với thế giới bằng ngôn ngữ hiện đại và bản sắc Việt Nam. Thành tựu đổi mới, văn hóa dân tộc, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển cần được trình bày bằng sản phẩm hấp dẫn, dữ liệu thuyết phục.

Để hoàn thành sứ mệnh đó, báo chí cần nguồn lực phát triển bền vững. Kinh tế báo chí số không đối lập với mục tiêu và các định hướng của báo chí cách mạng. Một nền báo chí thiếu nguồn lực sẽ khó đầu tư công nghệ, bảo vệ bản quyền, đào tạo nhân lực và giữ chân người giỏi. Tuy nhiên, kinh tế báo chí phải phục vụ sứ mệnh báo chí, không dẫn dắt báo chí vào giật gân, câu khách, khai thác đời tư, thương mại hóa thông tin chính trị - xã hội. Báo chí cần nguồn thu mới từ thuê bao số, bản quyền, dữ liệu và sản phẩm chuyên sâu. Nếu không xây dựng được mô hình kinh tế báo chí số lành mạnh, báo chí sẽ khó giữ vững năng lực đầu tư cho nội dung chất lượng cao, điều tra, phân tích, kiểm chứng và bảo vệ bản quyền.

Bản quyền báo chí trong môi trường số và môi trường AI cũng phải được bảo vệ nghiêm túc. Nội dung báo chí là kết quả của lao động sáng tạo, tác nghiệp, kiểm chứng, biên tập, đầu tư tài chính và trách nhiệm pháp lý. Việc sao chép, cắt ghép, khai thác, tổng hợp, thương mại hóa sẽ làm suy yếu nền tảng kinh tế của báo chí. Bảo vệ bản quyền là bảo vệ lao động chân chính và chất lượng thông tin trong xã hội.

Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Hà Tĩnh tác nghiệp tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Vấn đề cuối cùng vẫn là con người. Mọi định hướng, chiến lược đều phụ thuộc vào con người. Nhà báo trong kỷ nguyên số phải biết làm việc với dữ liệu, công cụ số, mạng xã hội, nguồn tin mở và các chuẩn mực an toàn thông tin. Càng nhiều công cụ, nhà báo càng cần bản lĩnh. Cần tránh tình trạng đăng trước kiểm chứng sau hay để mạng xã hội dẫn dắt. Người làm báo không được phép đánh đổi uy tín để tăng lượt xem. Trước khi đăng một tác phẩm báo chí, người làm báo cần trả lời ba câu hỏi: có đúng không, có cần thiết không, có ích cho xã hội không?

Lãnh đạo cơ quan báo chí cũng phải thay đổi. Tổng biên tập trong tòa soạn số không chỉ là người duyệt nội dung, mà còn phải kiến tạo chiến lược sản phẩm, dữ liệu, công chúng, công nghệ và nhân lực. Cơ quan báo chí cần một văn hóa làm việc mới: chuyên nghiệp, kỷ luật trong kiểm chứng, nhanh nhạy trong phản ứng, cởi mở với đổi mới, sẵn sàng thử nghiệm nhưng không dễ dãi với chuẩn mực. Đào tạo lại đội ngũ phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, tập trung vào kiểm chứng số, an toàn dữ liệu, báo chí đa nền tảng, đạo đức AI và tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Trong bối cảnh Luật Báo chí số 126/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, việc hoàn thiện thể chế báo chí số là hết sức cần thiết. Thể chế phải bảo vệ quyền tác nghiệp đúng pháp luật, khuyến khích đổi mới sáng tạo, tạo hành lang cho tòa soạn số, kinh tế báo chí số, báo chí dữ liệu, bảo vệ bản quyền và sử dụng AI có trách nhiệm. Đồng thời, kỷ cương báo chí phải được giữ nghiêm; các sai phạm về thông tin, đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng báo chí để trục lợi phải được xử lý kịp thời.

Một nhiệm vụ cấp thiết là hình thành năng lực kiểm chứng thông tin ở quy mô quốc gia. Cần có sự kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ quan báo chí chủ lực, chuyên gia công nghệ, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng để phát hiện, xác minh, cảnh báo, phản bác tin giả, giả mạo phát ngôn, giả mạo hình ảnh cơ quan nhà nước và các hoạt động tán phát gây nhiễu thông tin. Mạng lưới đó phải vận hành nhanh, có quy trình rõ ràng, dùng dữ liệu và chứng cứ để thuyết phục công chúng.

Trong toàn bộ quá trình đổi mới nền báo chí, phải đặt công chúng ở vị trí trung tâm. Công chúng số hiện nay không chỉ tiếp nhận thông tin mà thường xuyên phản hồi, đặt câu hỏi, kiểm chứng ngược, góp ý, cung cấp dữ liệu và đòi hỏi báo chí minh bạch hơn. Báo chí phải biết lắng nghe nhưng không chạy theo mọi cảm xúc tức thời, tôn trọng tranh luận nhưng tuyệt đối không dung dưỡng thông tin độc hại. Với giới trẻ, báo chí có thể đổi mới để tiếp cận tốt hơn bằng ngôn ngữ, định dạng, nền tảng phù hợp nhưng không được hạ thấp chuẩn mực.

Báo chí cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên số vì vậy phải kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh chính trị và năng lực công nghệ, giữa lý tưởng cách mạng và tư duy đổi mới, giữa tính chiến đấu và tính nhân văn, giữa trách nhiệm quốc gia và khả năng hội nhập. Làm chủ không gian số không thể chỉ bằng khẩu hiệu mà phải bắt đầu từ từng tòa soạn, từng quy trình kiểm chứng, từng kho dữ liệu, từng sản phẩm báo chí, từng lớp đào tạo và từng ứng xử của nhà báo trước công chúng.

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, tôi mong rằng các cơ quan báo chí và mỗi nhà báo sẽ biến truyền thống cách mạng thành động lực cho đổi mới. Các cơ quan báo chí cần trở thành một tòa soạn số hiện đại, một trung tâm dữ liệu và tri thức, một địa chỉ tin cậy của nhân dân. Các nhà báo tiếp tục là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa - thông tin số, vững bản lĩnh, trong sáng đạo đức, sâu sắc nhân văn, tinh thông công nghệ. Với định hướng đó, tôi tin tưởng rằng báo chí cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong thời đại số.

 

Lượt xem: 15

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.