Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ thị nâng cao chất lượng phát triển đảng viên

(Baohatinh.vn) - Việc chú trọng nâng cao chất lượng đảng viên kết nạp thời gian qua góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Việc chú trọng nâng cao chất lượng đảng viên kết nạp đã góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Những năm qua, công tác phát triển đảng viên đã được các cấp ủy quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo và đạt được những kết quả tích cực. Chất lượng đảng viên mới kết nạp từng bước được nâng lên; trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị được cải thiện; tỷ lệ đảng viên là nữ, trẻ, người dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân tăng lên theo các năm. Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, toàn Đảng bộ đã kết nạp được 10.359 đảng viên (6.402 nữ, 32 người dân tộc thiểu số, 44 người theo tôn giáo, 14 chủ doanh nghiệp tư nhân, 2.651 học sinh, sinh viên). Việc chú trọng nâng cao chất lượng đảng viên kết nạp đã góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Tuy vậy, công tác phát triển đảng viên thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, bất cập: Việc phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, trong các đơn vị sự nghiệp, khu kinh tế, cụm công nghiệp, trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp khu vực ngoài Nhà nước còn khó khăn; một số nơi còn tình trạng “trắng” đảng viên; tỷ lệ phát triển đảng viên hằng năm tuy có tăng nhưng chưa đạt chỉ tiêu đề ra; một số nơi có biểu hiện chạy theo số lượng, chưa thực chất coi trọng chất lượng; nhận thức về Đảng, động cơ phấn đấu vào Đảng của một số bộ phận quần chúng chưa đầy đủ, đúng đắn; các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc tác động đến tư tưởng một bộ phận thanh niên, làm giảm động cơ phấn đấu vào Đảng...

Các nhiệm vụ trọng tâm

Để nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên trong giai đoạn mới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đảng viên. Tập trung giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; nêu cao tinh thần “tự soi”, “tự sửa”, đề cao phẩm chất, danh dự, lòng tự trọng và tính gương mẫu của đảng viên. Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền, lan toả những tấm gương đảng viên tiêu biểu trên tất cả các lĩnh vực, qua đó củng cố niềm tin, tạo động lực phấn đấu cho quần chúng ưu tú. Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương, của tỉnh. Phát huy, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trong lãnh đạo công tác phát triển đảng viên; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ngoài chỉ đạo chung, phải trực tiếp phát hiện, bồi dưỡng nguồn quần chúng ưu tú, chịu trách nhiệm chính về chất lượng và số lượng đảng viên được kết nạp hằng năm.

Chỉ đạo tăng số lượng gắn với nâng cao chất lượng phát triển đảng viên; tập trung tại những địa bàn, lĩnh vực khó khăn, tỷ lệ phát triển vào Đảng thấp như trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, doanh nghiệp FDI; doanh nghiệp ngoài nhà nước, ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, những lĩnh vực có nguồn quần chúng nhiều như các đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, doanh nghiệp... Chú trọng phát triển đảng viên trong các nhóm đối tượng: học sinh, sinh viên, đoàn viên, hội viên, công nhân, người lao động, cán bộ quản lý, chủ tịch công đoàn, chủ doanh nghiệp tư nhân; các thành viên chủ chốt của hội, câu lạc bộ doanh nhân; người có tôn giáo, dân tộc; bộ đội, công an xuất ngũ về địa phương...; trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng ban công tác mặt trận, trưởng các chi đoàn, chi hội chưa là đảng viên nhằm khắc phục triệt để tình trạng “thôn trắng đảng viên”, chi bộ sinh hoạt ghép, tạo nguồn cán bộ kế cận lâu dài cho hệ thống chính trị.

Hằng năm, cấp ủy các cấp từ tỉnh đến chi bộ căn cứ phương hướng, tiêu chuẩn, điều kiện phát triển đảng viên của Trung ương để khảo sát, đánh giá, phân tích chất lượng và dư địa nguồn phát triển; trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch và đề ra các biện pháp chỉ đạo cụ thể phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng đảng bộ, chi bộ. Giao chỉ tiêu, trách nhiệm cụ thể cho tổ chức đảng, đoàn thể trực thuộc, cấp ủy viên, đảng viên trong việc phát hiện, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên, nhất là đối với những địa phương, đơn vị chưa đảm bảo chỉ tiêu hàng năm và cả nhiệm kỳ để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đảm bảo số lượng, thời gian, kết quả thực hiệnĐưa nội dung, giải pháp phát triển đảng viên vào sinh hoạt chi bộ để mỗi đảng viên nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt theo quy định.

Phát huy vai trò của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và Nhân dân trong việc tham gia xây dựng kế hoạch, nâng cao chất lượng phát triển đảng viên. Hướng dẫn, tạo điều kiện để các tổ chức đoàn thể ở địa phương, trường học, doanh nghiệp đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thi đua lao động, học tập, sáng kiến; tổ chức các diễn đàn, hội, nhóm, câu lạc bộ nhằm bồi đắp, giác ngộ lý tưởng, giáo dục truyền thống, nâng cao nhận thức cho đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân. Tổ chức các hoạt động thiết thực để quần chúng có điều kiện tham gia, thể hiện, rèn luyện, phấn đấu và được xem xét, lựa chọn phát triển vào Đảng. Đề cao trách nhiệm của từng tổ chức chính trị-xã hội trong việc xây dựng kế hoạch, phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu quần chúng ưu tú và xem đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm.

Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng nhận thức về Đảng theo hướng thiết thực, chất lượng, hiệu quả; tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên; đề cao tính tiền phong, gương mẫu, mục tiêu, lý tưởng và động cơ vào Đảng đúng đắn. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, triển khai có hiệu quả việc tổ chức thực hiện các lớp bồi dưỡng trực tiếp kết hợp trực tuyến, đa dạng về hình thức và thời gian, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quần chúng ưu tú tham gia học tập.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện hiệu quả quy chế phối hợp giữa cấp ủy các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học với cấp ủy nơi quần chúng cư trú trong công tác xác minh lý lịch; xem xét, tạo điều kiện để những quần chúng ưu tú đã được bồi dưỡng nhận thức về Đảng, chuyển công tác hoặc trở về địa phương tiếp tục được theo dõi, phát triển vào Đảng. Thực hiện tốt quy chế phối hợp trong đào tạo, bồi dưỡng quần chúng ưu tú giữa các đảng ủy xã, phường với Trung tâm Chính trị. Chính quyền các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh trên địa bàn; qua đó thu hút người dân, thanh niên xa quê trở về lập nghiệp, tạo việc làm ổn định cho người lao động, góp phần tạo nguồn quần chúng phát triển đảng viên mới.

Coi trọng công tác tự kiểm tra, giám sát của cấp ủy và tổ chức cơ sở đảng. Đưa nội dung phát triển đảng viên vào chương trình kiểm tra, giám sát thường xuyên và chuyên đề, gắn với việc thực hiện Điều lệ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ được giao, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện, trách nhiệm nêu gương, quy định về những điều đảng viên không được làm. Đưa tiêu chí phát triển đảng viên làm căn cứ đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Tổ chức thực hiện

Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ hằng quý, 6 tháng, năm hoặc đột xuất báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy.

Các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, cấp ủy các cấp căn cứ kế hoạch phát triển đảng viên hằng năm tổ chức đánh giá kết quả thực hiện so với mục tiêu, chỉ tiêu đề ra; làm rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm; kịp thời đề ra giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác phát triển đảng viên ở cấp mình. Thực hiện tốt công tác biểu dương, khen thưởng các tổ chức đảng, đảng viên có thành tích xuất sắc; đồng thời chấn chỉnh, phê bình, đưa vào tiêu chí đánh giá, xếp loại cuối năm đối với các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy chưa quan tâm, chưa thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên trong giai đoạn mới. Chủ trì, phối hợp với Trường Chính trị Trần Phú và các cơ quan liên quan tổ chức biên soạn, hoàn thiện bộ tài liệu phục vụ cho công tác bồi dưỡng nhận thức về Đảng đảm bảo thiết thực, chất lượng, hiệu quả; gắn với tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng.

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chủ trì nghiên cứu, đưa nội dung thực hiện Chỉ thị vào chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra; cấp ủy các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy chỉ đạo ủy ban kiểm tra cùng cấp đưa vào chương trình kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất, đảm bảo việc triển khai thực hiện Chỉ thị được đồng bộ, thống nhất, nghiêm túc.

Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn triển khai, sử dụng các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sinh hoạt chi bộ, nghiệp vụ công tác đảng viên, sổ tay đảng viên điện tử, sinh hoạt trực tuyến, cơ sở dữ liệu đảng viên… bảo đảm đúng quy định, an toàn, hiệu quả.

MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp căn cứ chức năng, nhiệm vụ phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện các nội dung Chỉ thị.

Chỉ thị này thay thế Chỉ thị số 43-CT/TU ngày 18/6/2024 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong tình hình mới” và được phổ biến, quán triệt đến các chi bộ để tổ chức thực hiện.

 

Lượt xem: 46

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.