Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Cách đây 71 năm, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ đập tan cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ngày 6/5/1954, ta mở cuộc tổng công kích vào Điện Biên Phủ, phá tan các lô cốt 

và hầm ngầm cố thủ của địch trên đồi A1 - vị trí quan trọng ở Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, cách đây 71 năm, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ - đỉnh cao của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đập tan cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Không chỉ đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, trở thành biểu tượng của sự kế thừa, phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc qua hàng ngàn năm dựng nước và dựng nước, Điện Biên Phủ đã trở thành nơi khắc ghi sự cống hiến, hy sinh to lớn của biết bao cán bộ, chiến sỹ Quân đội và nhân dân Việt Nam, là sự thể hiện đỉnh cao của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.

Tạo ưu thế về sức mạnh chính trị tinh thần

Với tầm nhìn chiến lược, đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh đòn quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bước vào Chiến dịch, ta đã huy động năm đại đoàn chủ lực bao vây, tiến công địch và hơn 260.000 dân công phục vụ chiến dịch.

Bằng sức mạnh tổng hợp của các yếu tố con người-vũ khí-trang bị, tổ chức lực lượng, nghệ thuật quân sự, thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc," bộ đội ta đã liên tục tiến công, lần lượt đột phá, tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Thắng lợi của Chiến dịch đến từ nhiều yếu tố, trong đó đầu tiên phải kể đến đó là ta đã nắm chắc tình hình, kịp thời đề ra chủ trương chiến lược đúng đắn, lựa chọn mục tiêu tác chiến phù hợp, có ý nghĩa quyết định giành chiến lược; kịp thời thay đổi phương châm tác chiến - yếu tố có ý nghĩa trực tiếp quyết định thắng lợi Chiến dịch.

Trước và trong quá trình diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta được phát huy cao độ; đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch dài ngày, nơi tập trung những nỗ lực cao nhất của cả hai bên. Chính vì vậy, đó là cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ với nhiều mất mát, hy sinh. Nhưng dưới sự lãnh đạo, giáo dục, tổ chức và rèn luyện của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc đã được khơi dậy, chuyển hóa thành sức mạnh vật chất để chiến thắng kẻ thù. Chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân, trong đó có nhiều gia đình cán bộ, chiến sỹ ngoài mặt trận đã khơi dậy lòng biết ơn và niềm tin tuyệt đối của bộ đội vào Đảng, Bác Hồ và thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Bên cạnh đó, thông qua các đợt học tập, chỉnh quân chính trị, phát động căm thù, đặc biệt là sau khi được học tập, quán triệt các mệnh lệnh của Chỉ huy trưởng Chiến dịch về tăng cường ý thức chấp hành kỷ luật chiến trường, thực hiện tốt nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chuyển từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc," tinh thần quyết chiến, quyết thắng được nâng cao trong cán bộ, chiến sỹ, tạo nên ưu thế tuyệt đối sức mạnh chính trị tinh thần làm nên thắng lợi của Chiến dịch.

Nghệ thuật chọn mục tiêu mở đầu Chiến dịch

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, cả thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đều coi Điện Biên phủ là “một pháo đài không thể công phá.” Trong tập đoàn cứ điểm này, cụm cứ điểm Him Lam thuộc phân khu trung tâm, cùng với các trung tâm đề kháng đồi Độc Lập, Bản Kéo của phân khu Bắc tạo thành trận địa phòng ngự tiền duyên án ngữ phía Bắc và Đông Bắc, bảo vệ Mường Thanh.

Thực hiện kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, Hội nghị Bộ Chính trị (họp ngày 6/12/1953) đã thông qua quyết tâm của Tổng Quân ủy: "Tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ mở chiến dịch tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ." Để thực hiện quyết tâm trên, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chọn phương châm đánh chắc, tiến chắc, cách đánh tập trung ưu thế binh hỏa lực đánh từng trận hay một số trận gối đầu liên tiếp, diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm ngoại vi, "bóc vỏ" từ ngoài, mở đường tiến vào cánh đồng Mường Thanh.

Hàng chục khẩu pháo của ta đồng loạt nhả đạn lên các vị trí của quân Pháp trên đồi Him Lam, 

mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, chiều 13/3/1954. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Với cách đánh này, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chọn Him Lam là mục tiêu mở đầu. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) được tăng cường "hai đại đội sơn pháo 75mm, hai đại đội cối 120mm, hai đại đội cối 82mm" có nhiệm vụ tiến công Him Lam, mở đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ; quá trình chiến đấu được hai đại đội lựu pháo 105mm trực tiếp chi viện.

Đúng 17 giờ 5 phút ngày 13/3/1954, pháo binh ta thực hành hỏa lực chuẩn bị đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện cho các lực lượng tiến công của Đại đoàn 312 cơ động, chiếm lĩnh trận địa xuất phát xung phong.

Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 13/3/1954, ta bắt đầu mở cửa. Trung đoàn 141 sử dụng Tiểu đoàn 11 tiến công hướng chủ yếu, tiêu diệt cứ điểm 1 (102); Tiểu đoàn 428 tiến công hướng thứ yếu, tiêu diệt cứ điểm 2 (101A). Trung đoàn 209 sử dụng Tiểu đoàn 130 tiến công cứ điểm 3 (101B).

Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, nhất là hướng chủ yếu của Trung đoàn 141. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, trung tâm đề kháng Him Lam hoàn toàn bị tiêu diệt, "hơn 200 tên bị chết, 270 tên bị bắt sống, tiểu đoàn lê dương 3 bị loại khỏi vòng chiến đấu" (theo "Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp," Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).

Thắng lợi Him Lam để lại bài học quý về nghệ thuật mở đầu chiến dịch tiến công, thể hiện trí tuệ quân sự Việt Nam, nổi bật nhất ở việc chọn đúng mục tiêu mở đầu Chiến dịch. Đây là lựa chọn chính xác, khoa học, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của Chiến dịch. Mục tiêu mở đầu thường chọn các vị trí hiểm yếu, khi ta đánh trúng sẽ làm rúng động toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, tạo phản ứng dây chuyền có lợi cho ta, bất lợi cho địch; bảo đảm vừa sức, chắc thắng. Tiến công Him Lam để mở đầu chiến dịch là sự lựa chọn phù hợp với thực tiễn tổ chức, bố trí phòng ngự của đối tượng tác chiến.

Thắng lợi của trận mở đầu có tác dụng khích lệ tinh thần, xây dựng niềm tin chiến thắng cho bộ đội, uy hiếp tinh thần, làm địch hoang mang, tạo thế, lực, thời cơ có lợi để tiến công mục tiêu chủ yếu. Bên cạnh đó, trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, ta vẫn tiếp tục có sự điều chỉnh bảo đảm phù hợp phương châm, phương pháp tác chiến.

Tất cả cho mặt trận

Cùng với ý chí quyết tâm nơi tiền tuyến, chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ còn để lại một bài học lớn về phát huy thế trận hậu cần nhân dân. Theo phương châm tác chiến, dự kiến nhu cầu hậu cần chiến dịch gồm: 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh và ngày 20/1/1954 phải hoàn thành chuẩn bị về hậu cần.

 

Bộ đội ta vượt qua cầu Mường Thanh, tấn công vào

Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Tổng Quân ủy nhận định: "Để tiến hành chiến dịch rất lớn này, ta có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá” (theo “Lịch sử hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam,” Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).

17 giờ 5 phút ngày 13/3/1954, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ mở màn bằng trận tiến công Him Lam. Các tuyến hậu cần bước vào phục vụ bộ đội chiến đấu. Khó khăn lớn nhất của công tác bảo đảm chiến dịch là các tuyến vận tải rất dài, qua địa hình rừng núi hiểm trở, sông suối chia cắt, đường xấu... Tuyến từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến Sơn La dài hơn 600km; tuyến từ Nho Quan, Ninh Bình và Thanh Hóa lên Sơn La dài hơn 300km; tuyến từ Sơn La đến mặt trận dài hơn 150km. Trên các tuyến đường đó, địch xác định có 40 trọng điểm đánh phá có thể cắt đứt toàn bộ tuyến tiếp viện của ta.

Để tập trung đánh phá các trọng điểm, máy bay địch đánh 1.186 trận vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất sử dụng 250 lượt bắn phá (trong đó có cả máy bay cường kích B-26). Các đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo... trở thành trọng điểm đánh phá của địch, có ngày chúng ném xuống Cò Nòi và đèo Pha Đin 160-300 quả bom các loại. Song, bất chấp sự oanh tạc của quân địch, huyết mạch giao thông vận tải phục vụ Chiến dịch luôn được bảo đảm. Để bảo vệ giao thông, ta sử dụng hai tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm, các tiểu đoàn súng máy 12,7mm bắn máy bay; bốn tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công liên tục bám các trục đường bảo đảm giao thông...

Chính tướng Navarre, Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cũng phải thừa nhận: "... Hiếm có đoạn đường nào bị đứt quá 24 giờ. Hơn nữa, trong thời gian đường bị cắt đứt, việc vận chuyển vẫn được tiếp tục bằng cách chuyển tải hoặc đi vòng đường khác."

Để vận chuyển khối lượng lớn vật chất lên mặt trận, công tác hậu cần Chiến dịch thực hiện phương châm "lấy vận tải cơ giới là chủ yếu, triệt để phát huy cơ giới, đồng thời tranh thủ mọi phương tiện thô sơ." Hơn 20.000 xe đạp thồ được các địa phương huy động phục vụ Chiến dịch.

Nhà báo Giuyn Roa, nguyên Đại tá quân đội Pháp đã viết: "... Không phải viện trợ của Trung Quốc đánh bại tướng Navarre mà đó là những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200-300kg hàng, do những dân công ăn không no, ngủ trên những tấm ni lon trải ngay trên mặt đất. Tướng Navarre bị đánh bại bởi trí thông minh và quyết tâm chiến thắng của đối phương!"

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngành Hậu cần đã huy động toàn bộ lực lượng, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch (lực lượng chiến đấu 53.830 người); khối lượng vật chất phục vụ chiến dịch lên tới 20.000 tấn: 1.200 tấn đạn, 1.733 tấn xăng dầu, 14.950 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác (theo “Lịch sử hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam,” Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đánh giá: “Trên mặt trận Điện Biên Phủ, vấn đề bảo đảm cung cấp lương thực, đạn dược là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật, khó khăn về cung cấp lương thực không kém khó khăn về tác chiến. Tình hình cung cấp khẩn trương từng ngày, từng giờ, không kém tình hình chiến đấu..., quân địch không bao giờ tưởng tượng được rằng, chúng ta có thể khắc phục được khó khăn này. Bọn đế quốc, bọn phản động không bao giờ đánh giá được được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù....”

Với tinh thần "Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng," quân và dân ta vượt mọi khó khăn, bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi./.

Lượt xem: 38

Xem nhiều nhất

Chiến công hiển hách, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

 Ngày 19/8/1945, sau cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn, quần chúng nhân dân Thủ đô đã đánh chiếm Bắc Bộ phủ, cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp ở Bắc Bộ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là chiến công hiển hách, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc. Không chỉ chấm dứt ách đô hộ kéo dài hàng thế kỷ, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn là biểu tượng rực rỡ của khát vọng tự do, quyền làm chủ và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam.80 năm đã trôi qua, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của sự kiện trọng đại này vẫn vẹn nguyên giá trị, là nguồn cảm hứng và sức mạnh tinh thần to lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.Chiến công hiển háchThắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị công phu, được kết tinh từ phong trào yêu nước sôi nổi, liên tục và bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Ngược dòng lịch sử, tại thời điểm năm 1945, phong trào cách mạng Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao. Hàng triệu quần chúng đã sẵn sàng vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ, giành lấy quyền làm chủ đất nước. Các cuộc mít tinh, biểu tình, vũ trang thị uy do Việt Minh lãnh đạo trở thành “lửa thử vàng” cho ý chí độc lập của toàn dân tộc.Ngày 9/3/1945, khi phát xít Nhật đảo chính Pháp nhằm độc chiếm Đông Dương, cục diện thuộc địa sụp đổ. Với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta lập tức ra bản chỉ thị lịch sử: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định rõ kẻ thù trước mắt là phát xít Nhật và phát động cao trào kháng Nhật cứu nước. Đây không chỉ là sự thay đổi chiến thuật, mà còn là bước ngoặt về tư duy hành động, chuẩn bị trực tiếp cho tổng khởi nghĩa toàn dân.Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, phát xít; xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời; mở ra bước ngoặt lịch sử trọng đại, đưa đất nước Việt Nam từ một xứ thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Trong ảnh: Nhân dân ở nhiều địa phương nổi dậy đánh chiếm kho thóc của Nhật cứu đói. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)Tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào để lãnh đạo phong trào cách mạng. Từ đây Tân Trào trở thành trung tâm căn cứ địa - Thủ đô khu giải phóng trong cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tại đây, lực lượng cách mạng không ngừng được củng cố, rèn luyện, tập dượt, chờ một thời cơ lớn để giật tung xiềng xích áp bức đã tồn tại hàng thế kỷ.Tháng 8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, thời cơ lịch sử đã đến. Chớp đúng khoảnh khắc “ngàn vàng", Đảng ta triệu tập Hội nghị toàn quốc, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước, đồng thời thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc để lãnh đạo cuộc nổi dậy thần tốc.Ngay sau đó, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào đã hợp thức hóa quyết tâm chiến lược đó bằng việc thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa và thành lập Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.Ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.” (1)Khí thế cách mạng bùng nổ dữ dội, lan nhanh như cuồng phong. Từ đồng bằng đến miền núi, từ đô thị đến nông thôn, Nhân dân nhất loạt nổi dậy. Đặc biệt, khởi nghĩa thắng lợi ở ba đô thị lớn - Hà Nội, Huế, Sài Gòn - đã dập tắt những tàn dư cuối cùng của thực dân phong kiến, tạo nên hiệu ứng lan tỏa toàn quốc.Chỉ trong vòng nửa tháng (từ ngày 14/8-28/8/1945), cuộc Tổng khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, chính quyền cả nước thuộc về tay Nhân dân.Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập.” (2)Sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” (Ảnh: TTXVN)Không chỉ là văn kiện pháp lý khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Tuyên ngôn độc lập còn là lời thề thiêng liêng của dân tộc: “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” (3). Điều này đã được chứng minh rõ nét qua các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược sau này của dân tộc Việt Nam anh hùng.Sức mạnh làm nên chiến thắng lịch sửThắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết tinh của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, là thành quả tất yếu của cả một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, kiên cường và sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là do đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo và linh hoạt của Đảng ta, xuất phát từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Trải qua những cao trào đấu tranh cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh, đến các phong trào 1936-1939 và 1941-1945, Đảng đã không ngừng rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện phương hướng chiến lược: đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xác định chính xác kẻ thù cụ thể trong từng giai đoạn, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn nhiệm vụ phản đế với phản phong.Thành công của Cách mạng Tháng Tám còn đến từ năng lực nhạy bén trong đánh giá tình hình và chớp thời cơ cách mạng một cách quyết đoán. Thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh (8/1945), Đảng ta đã kịp thời triệu tập Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào, phát động tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Việc chủ động phát động khởi nghĩa đúng lúc kẻ thù khủng hoảng và lực lượng cách mạng đã sẵn sàng là minh chứng điển hình cho bản lĩnh chiến lược và nghệ thuật lãnh đạo tài tình của Đảng.Bên cạnh đó, thắng lợi này còn là kết quả của quá trình chuẩn bị lực lượng lâu dài và chu đáo cả về chính trị, vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Mặt trận Việt Minh đã xây dựng được phong trào quần chúng rộng khắp, gây dựng căn cứ kháng chiến vững chắc như căn cứ địa Việt Bắc, Tân Trào... Đây là những điểm tựa chủ chốt để chuyển hóa lực lượng chính trị thành lực lượng khởi nghĩa nhanh chóng, hiệu quả.Nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia giành chính quyền và kéo vào cửa Thượng Tứ ngày 23/8/1945, ngày cách mạng thắng lợi tại Huế. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)Một nguyên nhân quan trọng nữa là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hội tụ ý chí tự lực, tự cường, khát vọng độc lập, tự do của toàn thể Nhân dân. Hơn 20 triệu đồng bào từ Bắc đến Nam đã nhất tề đứng lên, giành chính quyền nhanh gọn trong vòng nửa tháng.Cách mạng Tháng Tám là cuộc tổng khởi nghĩa được quần chúng nhân dân hưởng ứng mãnh liệt và chủ động tiến hành, thể hiện tinh thần yêu nước và niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng.Bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt NamThắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phátxít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời; thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhờ có thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Nhân dân Việt Nam đã thực sự “đổi đời,” từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam là bước nhảy vọt to lớn, là cuộc cải biến xã hội vĩ đại không chỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam mà của cả lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới.Không chỉ là một sự kiện mang ý nghĩa dân tộc, Cách mạng Tháng Tám còn có tầm vóc quốc tế sâu sắc. Đó là minh chứng sinh động cho chân lý: trong thời đại mới, các dân tộc thuộc địa có thể giành độc lập nếu có đường lối đúng đắn và biết khơi dậy sức mạnh toàn dân.Thắng lợi của Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ các phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và góp phần làm tan rã nhanh chóng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ.Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phátxít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời.Về phương diện lý luận, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự thể nghiệm thành công đầu tiên của chủ nghĩa Marx-Lenin tại một nước thuộc địa ở châu Á, đồng thời là kết quả trực tiếp của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là minh chứng cho thấy: một Đảng cách mạng chân chính, chỉ sau 15 năm thành lập, đã có thể lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng toàn dân, tạo nên sự kiện vang dội khắp năm châu.Thành công của Cách mạng tháng Tám mở ra một chương mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam đó là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Trong ảnh: Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đến dự "Ngày cứu quốc" tổ chức tại Nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 20/10/1945. (Ảnh: TTXVN)Khẳng định ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.” (4)Bài học của trí tuệ và bản lĩnh dân tộcThắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại những bài học quý báu, tiếp tục được kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.Trước hết, đó là bài học về vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Chính đường lối cách mạng phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, cùng với năng lực nắm bắt tình hình và xử lý linh hoạt của Đảng, đã dẫn dắt Nhân dân ta đến thắng lợi lịch sử. Bài học ấy hiện đang được vận dụng trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước: từ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến xây dựng nền ngoại giao hiện đại, hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.Thứ hai là bài học về nghệ thuật chớp thời cơ, hành động đúng lúc, đúng cách. Nếu tháng 8/1945 là khoảnh khắc “ngàn năm có một” để khởi nghĩa toàn dân, thì ngày nay, chúng ta cũng đang đối mặt với nhiều thời cơ lịch sử mới, từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến xu thế chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.Chỉ khi tận dụng được thời cơ, phát huy tinh thần hành động quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, mới có thể đưa đất nước vượt qua mọi trở lực và phát triển bền vững.Thứ ba là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh rằng khi cả dân tộc chung một chí hướng, cùng một mục tiêu thì không thế lực nào có thể khuất phục được. Hôm nay, yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên cấp thiết để vượt qua các thách thức trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.Thứ tư là bài học về sự chuẩn bị kỹ lưỡng và toàn diện. Thành công của Cách mạng Tháng Tám không phải là kết quả của một sớm một chiều, mà là thành quả của quá trình tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang, căn cứ địa trong nhiều năm. Trong bối cảnh hiện nay, đây chính là lời nhắc nhở về tầm quan trọng của công tác quy hoạch chiến lược, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học-công nghệ, cũng như củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.Thứ năm, Cách mạng Tháng Tám để lại bài học lớn về tinh thần tự lực, tự cường và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược gay gắt, Việt Nam càng cần phát huy nội lực, tăng cường nội sinh của nền kinh tế, đồng thời tranh thủ tối đa các cơ hội hợp tác quốc tế để nâng cao vị thế quốc gia.Tròn 80 năm đã trôi qua kể từ khi bản Tuyên ngôn độc lập vang lên trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, nhưng những bài học, giá trị và tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn luôn trường tồn cùng dân tộc; là điểm tựa tinh thần vững chắc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững bước trên hành trình xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng./.Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. (Ảnh: TTXVN)