Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Cách đây 71 năm, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ đập tan cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ngày 6/5/1954, ta mở cuộc tổng công kích vào Điện Biên Phủ, phá tan các lô cốt 

và hầm ngầm cố thủ của địch trên đồi A1 - vị trí quan trọng ở Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, cách đây 71 năm, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ - đỉnh cao của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đập tan cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Không chỉ đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, trở thành biểu tượng của sự kế thừa, phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc qua hàng ngàn năm dựng nước và dựng nước, Điện Biên Phủ đã trở thành nơi khắc ghi sự cống hiến, hy sinh to lớn của biết bao cán bộ, chiến sỹ Quân đội và nhân dân Việt Nam, là sự thể hiện đỉnh cao của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.

Tạo ưu thế về sức mạnh chính trị tinh thần

Với tầm nhìn chiến lược, đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh đòn quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bước vào Chiến dịch, ta đã huy động năm đại đoàn chủ lực bao vây, tiến công địch và hơn 260.000 dân công phục vụ chiến dịch.

Bằng sức mạnh tổng hợp của các yếu tố con người-vũ khí-trang bị, tổ chức lực lượng, nghệ thuật quân sự, thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc," bộ đội ta đã liên tục tiến công, lần lượt đột phá, tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Thắng lợi của Chiến dịch đến từ nhiều yếu tố, trong đó đầu tiên phải kể đến đó là ta đã nắm chắc tình hình, kịp thời đề ra chủ trương chiến lược đúng đắn, lựa chọn mục tiêu tác chiến phù hợp, có ý nghĩa quyết định giành chiến lược; kịp thời thay đổi phương châm tác chiến - yếu tố có ý nghĩa trực tiếp quyết định thắng lợi Chiến dịch.

Trước và trong quá trình diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta được phát huy cao độ; đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch dài ngày, nơi tập trung những nỗ lực cao nhất của cả hai bên. Chính vì vậy, đó là cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ với nhiều mất mát, hy sinh. Nhưng dưới sự lãnh đạo, giáo dục, tổ chức và rèn luyện của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc đã được khơi dậy, chuyển hóa thành sức mạnh vật chất để chiến thắng kẻ thù. Chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân, trong đó có nhiều gia đình cán bộ, chiến sỹ ngoài mặt trận đã khơi dậy lòng biết ơn và niềm tin tuyệt đối của bộ đội vào Đảng, Bác Hồ và thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Bên cạnh đó, thông qua các đợt học tập, chỉnh quân chính trị, phát động căm thù, đặc biệt là sau khi được học tập, quán triệt các mệnh lệnh của Chỉ huy trưởng Chiến dịch về tăng cường ý thức chấp hành kỷ luật chiến trường, thực hiện tốt nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chuyển từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc," tinh thần quyết chiến, quyết thắng được nâng cao trong cán bộ, chiến sỹ, tạo nên ưu thế tuyệt đối sức mạnh chính trị tinh thần làm nên thắng lợi của Chiến dịch.

Nghệ thuật chọn mục tiêu mở đầu Chiến dịch

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, cả thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đều coi Điện Biên phủ là “một pháo đài không thể công phá.” Trong tập đoàn cứ điểm này, cụm cứ điểm Him Lam thuộc phân khu trung tâm, cùng với các trung tâm đề kháng đồi Độc Lập, Bản Kéo của phân khu Bắc tạo thành trận địa phòng ngự tiền duyên án ngữ phía Bắc và Đông Bắc, bảo vệ Mường Thanh.

Thực hiện kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, Hội nghị Bộ Chính trị (họp ngày 6/12/1953) đã thông qua quyết tâm của Tổng Quân ủy: "Tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ mở chiến dịch tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ." Để thực hiện quyết tâm trên, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chọn phương châm đánh chắc, tiến chắc, cách đánh tập trung ưu thế binh hỏa lực đánh từng trận hay một số trận gối đầu liên tiếp, diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm ngoại vi, "bóc vỏ" từ ngoài, mở đường tiến vào cánh đồng Mường Thanh.

Hàng chục khẩu pháo của ta đồng loạt nhả đạn lên các vị trí của quân Pháp trên đồi Him Lam, 

mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, chiều 13/3/1954. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Với cách đánh này, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chọn Him Lam là mục tiêu mở đầu. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) được tăng cường "hai đại đội sơn pháo 75mm, hai đại đội cối 120mm, hai đại đội cối 82mm" có nhiệm vụ tiến công Him Lam, mở đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ; quá trình chiến đấu được hai đại đội lựu pháo 105mm trực tiếp chi viện.

Đúng 17 giờ 5 phút ngày 13/3/1954, pháo binh ta thực hành hỏa lực chuẩn bị đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện cho các lực lượng tiến công của Đại đoàn 312 cơ động, chiếm lĩnh trận địa xuất phát xung phong.

Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 13/3/1954, ta bắt đầu mở cửa. Trung đoàn 141 sử dụng Tiểu đoàn 11 tiến công hướng chủ yếu, tiêu diệt cứ điểm 1 (102); Tiểu đoàn 428 tiến công hướng thứ yếu, tiêu diệt cứ điểm 2 (101A). Trung đoàn 209 sử dụng Tiểu đoàn 130 tiến công cứ điểm 3 (101B).

Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, nhất là hướng chủ yếu của Trung đoàn 141. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, trung tâm đề kháng Him Lam hoàn toàn bị tiêu diệt, "hơn 200 tên bị chết, 270 tên bị bắt sống, tiểu đoàn lê dương 3 bị loại khỏi vòng chiến đấu" (theo "Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp," Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).

Thắng lợi Him Lam để lại bài học quý về nghệ thuật mở đầu chiến dịch tiến công, thể hiện trí tuệ quân sự Việt Nam, nổi bật nhất ở việc chọn đúng mục tiêu mở đầu Chiến dịch. Đây là lựa chọn chính xác, khoa học, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của Chiến dịch. Mục tiêu mở đầu thường chọn các vị trí hiểm yếu, khi ta đánh trúng sẽ làm rúng động toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, tạo phản ứng dây chuyền có lợi cho ta, bất lợi cho địch; bảo đảm vừa sức, chắc thắng. Tiến công Him Lam để mở đầu chiến dịch là sự lựa chọn phù hợp với thực tiễn tổ chức, bố trí phòng ngự của đối tượng tác chiến.

Thắng lợi của trận mở đầu có tác dụng khích lệ tinh thần, xây dựng niềm tin chiến thắng cho bộ đội, uy hiếp tinh thần, làm địch hoang mang, tạo thế, lực, thời cơ có lợi để tiến công mục tiêu chủ yếu. Bên cạnh đó, trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, ta vẫn tiếp tục có sự điều chỉnh bảo đảm phù hợp phương châm, phương pháp tác chiến.

Tất cả cho mặt trận

Cùng với ý chí quyết tâm nơi tiền tuyến, chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ còn để lại một bài học lớn về phát huy thế trận hậu cần nhân dân. Theo phương châm tác chiến, dự kiến nhu cầu hậu cần chiến dịch gồm: 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh và ngày 20/1/1954 phải hoàn thành chuẩn bị về hậu cần.

 

Bộ đội ta vượt qua cầu Mường Thanh, tấn công vào

Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Tổng Quân ủy nhận định: "Để tiến hành chiến dịch rất lớn này, ta có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá” (theo “Lịch sử hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam,” Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).

17 giờ 5 phút ngày 13/3/1954, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ mở màn bằng trận tiến công Him Lam. Các tuyến hậu cần bước vào phục vụ bộ đội chiến đấu. Khó khăn lớn nhất của công tác bảo đảm chiến dịch là các tuyến vận tải rất dài, qua địa hình rừng núi hiểm trở, sông suối chia cắt, đường xấu... Tuyến từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến Sơn La dài hơn 600km; tuyến từ Nho Quan, Ninh Bình và Thanh Hóa lên Sơn La dài hơn 300km; tuyến từ Sơn La đến mặt trận dài hơn 150km. Trên các tuyến đường đó, địch xác định có 40 trọng điểm đánh phá có thể cắt đứt toàn bộ tuyến tiếp viện của ta.

Để tập trung đánh phá các trọng điểm, máy bay địch đánh 1.186 trận vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất sử dụng 250 lượt bắn phá (trong đó có cả máy bay cường kích B-26). Các đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo... trở thành trọng điểm đánh phá của địch, có ngày chúng ném xuống Cò Nòi và đèo Pha Đin 160-300 quả bom các loại. Song, bất chấp sự oanh tạc của quân địch, huyết mạch giao thông vận tải phục vụ Chiến dịch luôn được bảo đảm. Để bảo vệ giao thông, ta sử dụng hai tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm, các tiểu đoàn súng máy 12,7mm bắn máy bay; bốn tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công liên tục bám các trục đường bảo đảm giao thông...

Chính tướng Navarre, Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cũng phải thừa nhận: "... Hiếm có đoạn đường nào bị đứt quá 24 giờ. Hơn nữa, trong thời gian đường bị cắt đứt, việc vận chuyển vẫn được tiếp tục bằng cách chuyển tải hoặc đi vòng đường khác."

Để vận chuyển khối lượng lớn vật chất lên mặt trận, công tác hậu cần Chiến dịch thực hiện phương châm "lấy vận tải cơ giới là chủ yếu, triệt để phát huy cơ giới, đồng thời tranh thủ mọi phương tiện thô sơ." Hơn 20.000 xe đạp thồ được các địa phương huy động phục vụ Chiến dịch.

Nhà báo Giuyn Roa, nguyên Đại tá quân đội Pháp đã viết: "... Không phải viện trợ của Trung Quốc đánh bại tướng Navarre mà đó là những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200-300kg hàng, do những dân công ăn không no, ngủ trên những tấm ni lon trải ngay trên mặt đất. Tướng Navarre bị đánh bại bởi trí thông minh và quyết tâm chiến thắng của đối phương!"

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngành Hậu cần đã huy động toàn bộ lực lượng, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch (lực lượng chiến đấu 53.830 người); khối lượng vật chất phục vụ chiến dịch lên tới 20.000 tấn: 1.200 tấn đạn, 1.733 tấn xăng dầu, 14.950 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác (theo “Lịch sử hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam,” Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đánh giá: “Trên mặt trận Điện Biên Phủ, vấn đề bảo đảm cung cấp lương thực, đạn dược là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật, khó khăn về cung cấp lương thực không kém khó khăn về tác chiến. Tình hình cung cấp khẩn trương từng ngày, từng giờ, không kém tình hình chiến đấu..., quân địch không bao giờ tưởng tượng được rằng, chúng ta có thể khắc phục được khó khăn này. Bọn đế quốc, bọn phản động không bao giờ đánh giá được được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù....”

Với tinh thần "Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng," quân và dân ta vượt mọi khó khăn, bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi./.

Lượt xem: 97

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.