Hướng dẫn công tác nhân sự Ủy ban Kiểm tra tại đại hội Đảng nhiệm kỳ 2025-2030

(Baohatinh.vn) - Hướng dẫn số 10-HD/UBKTTW ngày 16/12/2024 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương quy định công tác nhân sự ủy ban kiểm tra tại đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Số lượng, cơ cấu ủy ban kiểm tra
Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương
- Số lượng từ 09 đến 11 ủy viên (do cấp ủy quyết định), trong đó có 02 uỷ viên kiêm chức (trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức của cấp ủy là cấp ủy viên và chánh thanh tra tỉnh, thành phố), riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh số lượng từ 13 đến 15 ủy viên; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hoá, Tỉnh ủy Nghệ An số lượng từ 11 đến 13 ủy viên.
- Các ủy viên chuyên trách gồm: Chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ, có từ 02 đến 03 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên; riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh không quá 05 phó chủ nhiệm; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An không quá 04 phó chủ nhiệm.
Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương
- Số lượng từ 11 đến 13 ủy viên (do Quân ủy Trung ương quyết định), trong đó có từ 08 đến 10 ủy viên chuyên trách và từ 03 đến 05 ủy viên kiêm chức (bao gồm: Chủ nhiệm ủy ban là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Cục trưởng Cục Tổ chức; Cục trưởng Cục Cán bộ; Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng); có 02 đến 03 ủy viên là Ủy viên Quân ủy Trung ương.
- Các ủy viên chuyên trách gồm: 04 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên.
Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương
- Số lượng từ 11 đến 13 ủy viên (do Đảng ủy Công an Trung ương quyết định), trong đó có từ 08 đến 10 ủy viên chuyên trách và từ 03 đến 05 ủy viên kiêm chức (bao gồm: Chủ nhiệm ủy ban là Phó Bí thư hoặc Ủy viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, Thứ trưởng Bộ Công an; Cục trưởng Cục Tổ chức cán bộ, Chánh Thanh tra Bộ Công an); có từ 02 đến 03 ủy viên là Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương.
- Các ủy viên chuyên trách gồm: 04 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên.
Ủy ban kiểm tra các Đảng ủy trực thuộc Trung ương: Có hướng dẫn sau khi cấp có thẩm quyền quyết định thành lập.
Ủy ban kiểm tra của cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy
- Số lượng từ 07 đến 09 ủy viên (do cấp ủy quyết định), trong đó có 02 ủy viên kiêm chức (trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp ủy viên và chánh thanh tra quận, huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh).
- Các ủy viên chuyên trách gồm: Chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp ủy,có từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên.
Ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp trên cơ sở
- Số lượng từ 05 đến 07 ủy viên (do cấp ủy quyết định), trong đó có 02 ủy viên kiêm chức (trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp ủy viên và chánh thanh tra cùng cấp; nơi không có chánh thanh tra cùng cấp là đồng chí phó bí thư hoặc chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy trực thuộc).
- Chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp ủy, từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là chuyên trách) và một số ủy viên chuyên trách.
Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở
- Số lượng từ 03 đến 05 ủy viên (do đảng ủy cơ sở quyết định), trong đó phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ làm chủ nhiệm. Nơi không có ban thường vụ cấp ủy thì đồng chí phó bí thư làm chủ nhiệm.
- Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên hoặc đảng viên phụ trách công tác đoàn thể, bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân.
- Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở xã, phường, thị trấn; những tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan và doanh nghiệp có từ 300 đảng viên trở lên thì bố trí 01 ủy viên chuyên trách làm phó chủ nhiệm.
Đảng ủy bộ phận và chi bộ
Đảng ủy bộ phận và chi bộ không lập ủy ban kiểm tra; tập thể cấp ủy, chi bộ thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và phân công 01 cấp ủy viên phụ trách. Có thể lựa chọn phân công một số đảng viên giúp đồng chí cấp ủy viên phụ trách làm công tác kiểm tra, giám sát.
Số lượng, cơ cấu ủy viên đối với ủy ban kiểm tra của đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở và cấp cơ sở trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các Đảng bộ trực thuộc Trung ương có hướng dẫn riêng.
Tiêu chuẩn ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp
Tiêu chuẩn đối với ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp theo tiêu chuẩn cấp ủy viên cùng cấp được quy định tại Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó, nhấn mạnh một số tiêu chuẩn sau:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; trung thực, liêm khiết, công minh, chính trực, tận tụy, trách nhiệm, có chính kiến, có bản lĩnh, dũng khí đấu tranh.
- Có phẩm chất đạo đức, lối sống gương mẫu, trong sáng; thực hiện nghiêm quy định của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, giữ gìn đoàn kết nội bộ; kê khai tài sản, thu nhập trung thực, minh bạch; không cơ hội, tham vọng quyền lực, cục bộ, bè phái, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”,... Không để vợ hoặc chồng, con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi.
- Có năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tư duy đổi mới, tầm nhìn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả; nói đi đôi với làm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có kinh nghiệm trong công tác xây dựng đảng và hiểu biết về lĩnh vực kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng.
- Có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao và theo quy định của Đảng, Nhà nước; trình độ tin học, ngoại ngữ cần thiết và phù hợp.
- Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ.
Về độ tuổi
- Thực hiện tuổi giới thiệu ứng cử theo quy định của Đảng; bảo đảm tính kế thừa, phấn đấu có cán bộ nữ, cán bộ trẻ, người dân tộc thiểu số, căn cứ vào tình hình cụ thể các cấp ủy vận dụng bố trí cho phù hợp. Không vì cơ cấu mà hạ thấp chất lượng, tiêu chuẩn ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp.
- Nhân sự được giới thiệu để bầu tham gia ủy ban kiểm tra cấp ủy (chức vụ cao hơn), nhìn chung phải có thời gian giữ chức vụ đang đảm nhiệm (liền kề) hoặc chức vụ tương đương ít nhất 02 năm (24 tháng). Trường hợp đặc biệt, nếu nhân sự có thời gian giữ chức vụ từ 01 năm (12 tháng) đến dưới 02 năm (24 tháng) thì cấp ủy trực tiếp quản lý cán bộ phải tiến hành: (i) Đánh giá, nhận xét về phẩm chất, năng lực, uy tín, sản phẩm, kết quả cụ thể trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao đối với nhân sự; (ii) Quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình hoặc báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ xem xét, quyết định.
* Lưu ý: Trường hợp nhân sự đang giữ chức vụ, chức danh có cơ cấu tham gia ủy ban kiểm tra các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, thì không áp dụng thời gian giữ chức vụ ít nhất 02 năm theo quy định để giới thiệu tham gia ủy ban kiểm tra các cấp.
Nhân sự lần đầu tham gia ủy ban kiểm tra
Thực hiện độ tuổi như lần đầu tham gia cấp ủy cùng cấp theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW ngày 26/8/2024 của Ban Tổ chức Trung ương.
Nhân sự được giới thiệu tái cử
- Đối với nhân sự dự kiến giới thiệu tái cử giữ chức chủ nhiệm, phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy khóa mới thì thực hiện như cấp ủy được quy định tại Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW, ngày 26/8/2024 của Ban Tổ chức Trung ương.
- Đối với các đồng chí phó chủ nhiệm (trong đó có cả phó chủ nhiệm là cấp ủy viên, không còn đủ tuổi tham gia cấp ủy khóa mới) và ủy viên ủy ban kiểm tra còn đủ tuổi công tác từ 24 tháng trở lên (tính tại thời điểm tổ chức đại hội của mỗi cấp đến tháng nghỉ hưu). Thời điểm tính tuổi tham gia ủy ban kiểm tra các cấp là: Cấp cơ sở tháng 4/2025; cấp huyện và tương đương (gồm tất cả đảng bộ trực thuộc Đảng ủy Công an Trung ương) tháng 6/2025; cấp trực thuộc Trung ương tháng 9/2025, cụ thể:
+ Đối với cấp tỉnh: Nam sinh từ tháng 12/1965, nữ sinh từ tháng 5/1970 trở lại đây (trường hợp cán bộ nữ được nghỉ hưu ở độ tuổi 60 theo quy định của pháp luật thì sinh từ tháng 9/1967 trở lại đây).
+ Đối với cấp huyện: Nam sinh từ tháng 9/1965, nữ sinh từ tháng 02/1970 trở lại đây (trường hợp cán bộ nữ được nghỉ hưu ở độ tuổi 60 theo quy định của pháp luật, thì sinh từ tháng 6/1967 trở lại đây).
+ Đối với cán bộ, công chức cấp xã: Nam sinh từ tháng 7/1965, nữ sinh từ tháng 01/1970.
Về độ tuổi tái cử ủy ban kiểm tra đối với một số trường hợp đặc thù
Đối với lực lượng vũ trang: Độ tuổi tham gia ủy ban kiểm tra của cấp uỷ căn cứ vào độ tuổi nghỉ hưu quy định tại Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2024) và Luật Công an nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2023). Các đồng chí tham gia ủy ban kiểm tra của cấp ủy trong đảng bộ quân đội, công an tuổi tái cử phải đủ tuổi công tác ít nhất 1/2 nhiệm kỳ (30 tháng đối với nhiệm kỳ 05 năm); trường hợp đặc biệt còn tuổi công tác từ 01 năm (12 tháng) đến dưới 30 tháng, nếu có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín cao, sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên do cấp có thẩm quyền quyết định.
Đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp: Các đồng chí tham gia ủy ban kiểm tra của cấp ủy trong đảng bộ cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp; ủy ban kiểm tra của cấp ủy trong đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tài chính và ngân hàng thương mại nhà nước (hoặc nhà nước có cổ phần chi phối) còn tuổi công tác từ 01 năm (12 tháng) trở lên, do cấp có thẩm quyền quyết định.
Đối với những thành viên ủy ban kiểm tra không đủ tuổi tái cử nhiệm kỳ mới thì được thực hiện chế độ, chính sách như đối với cấp ủy viên không tái cử cấp ủy khóa mới theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW, ngày 26/8/2024 của Ban Tổ chức Trung ương.
Dừng việc bổ sung ủy viên ủy ban kiểm tra chuyên trách của cấp ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025 trước 06 tháng tính đến thời điểm bắt đầu đại hội đảng bộ ở mỗi cấp theo Chỉ thị số 35-CT/TW (tính theo thời điểm cơ quan có thẩm quyền nhận được văn bản đề nghị của cấp ủy). Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.


 

Tác giả bài viết: PV

Nguồn tin: baohatinh.vn

Lượt xem: 27

Xem nhiều nhất

Chiến công hiển hách, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

 Ngày 19/8/1945, sau cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn, quần chúng nhân dân Thủ đô đã đánh chiếm Bắc Bộ phủ, cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp ở Bắc Bộ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là chiến công hiển hách, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc. Không chỉ chấm dứt ách đô hộ kéo dài hàng thế kỷ, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn là biểu tượng rực rỡ của khát vọng tự do, quyền làm chủ và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam.80 năm đã trôi qua, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của sự kiện trọng đại này vẫn vẹn nguyên giá trị, là nguồn cảm hứng và sức mạnh tinh thần to lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.Chiến công hiển háchThắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị công phu, được kết tinh từ phong trào yêu nước sôi nổi, liên tục và bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Ngược dòng lịch sử, tại thời điểm năm 1945, phong trào cách mạng Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao. Hàng triệu quần chúng đã sẵn sàng vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ, giành lấy quyền làm chủ đất nước. Các cuộc mít tinh, biểu tình, vũ trang thị uy do Việt Minh lãnh đạo trở thành “lửa thử vàng” cho ý chí độc lập của toàn dân tộc.Ngày 9/3/1945, khi phát xít Nhật đảo chính Pháp nhằm độc chiếm Đông Dương, cục diện thuộc địa sụp đổ. Với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta lập tức ra bản chỉ thị lịch sử: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định rõ kẻ thù trước mắt là phát xít Nhật và phát động cao trào kháng Nhật cứu nước. Đây không chỉ là sự thay đổi chiến thuật, mà còn là bước ngoặt về tư duy hành động, chuẩn bị trực tiếp cho tổng khởi nghĩa toàn dân.Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, phát xít; xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời; mở ra bước ngoặt lịch sử trọng đại, đưa đất nước Việt Nam từ một xứ thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Trong ảnh: Nhân dân ở nhiều địa phương nổi dậy đánh chiếm kho thóc của Nhật cứu đói. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)Tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào để lãnh đạo phong trào cách mạng. Từ đây Tân Trào trở thành trung tâm căn cứ địa - Thủ đô khu giải phóng trong cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tại đây, lực lượng cách mạng không ngừng được củng cố, rèn luyện, tập dượt, chờ một thời cơ lớn để giật tung xiềng xích áp bức đã tồn tại hàng thế kỷ.Tháng 8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, thời cơ lịch sử đã đến. Chớp đúng khoảnh khắc “ngàn vàng", Đảng ta triệu tập Hội nghị toàn quốc, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước, đồng thời thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc để lãnh đạo cuộc nổi dậy thần tốc.Ngay sau đó, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào đã hợp thức hóa quyết tâm chiến lược đó bằng việc thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa và thành lập Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.Ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.” (1)Khí thế cách mạng bùng nổ dữ dội, lan nhanh như cuồng phong. Từ đồng bằng đến miền núi, từ đô thị đến nông thôn, Nhân dân nhất loạt nổi dậy. Đặc biệt, khởi nghĩa thắng lợi ở ba đô thị lớn - Hà Nội, Huế, Sài Gòn - đã dập tắt những tàn dư cuối cùng của thực dân phong kiến, tạo nên hiệu ứng lan tỏa toàn quốc.Chỉ trong vòng nửa tháng (từ ngày 14/8-28/8/1945), cuộc Tổng khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, chính quyền cả nước thuộc về tay Nhân dân.Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập.” (2)Sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” (Ảnh: TTXVN)Không chỉ là văn kiện pháp lý khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Tuyên ngôn độc lập còn là lời thề thiêng liêng của dân tộc: “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” (3). Điều này đã được chứng minh rõ nét qua các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược sau này của dân tộc Việt Nam anh hùng.Sức mạnh làm nên chiến thắng lịch sửThắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết tinh của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, là thành quả tất yếu của cả một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, kiên cường và sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là do đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo và linh hoạt của Đảng ta, xuất phát từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Trải qua những cao trào đấu tranh cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh, đến các phong trào 1936-1939 và 1941-1945, Đảng đã không ngừng rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện phương hướng chiến lược: đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xác định chính xác kẻ thù cụ thể trong từng giai đoạn, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn nhiệm vụ phản đế với phản phong.Thành công của Cách mạng Tháng Tám còn đến từ năng lực nhạy bén trong đánh giá tình hình và chớp thời cơ cách mạng một cách quyết đoán. Thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh (8/1945), Đảng ta đã kịp thời triệu tập Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào, phát động tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Việc chủ động phát động khởi nghĩa đúng lúc kẻ thù khủng hoảng và lực lượng cách mạng đã sẵn sàng là minh chứng điển hình cho bản lĩnh chiến lược và nghệ thuật lãnh đạo tài tình của Đảng.Bên cạnh đó, thắng lợi này còn là kết quả của quá trình chuẩn bị lực lượng lâu dài và chu đáo cả về chính trị, vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Mặt trận Việt Minh đã xây dựng được phong trào quần chúng rộng khắp, gây dựng căn cứ kháng chiến vững chắc như căn cứ địa Việt Bắc, Tân Trào... Đây là những điểm tựa chủ chốt để chuyển hóa lực lượng chính trị thành lực lượng khởi nghĩa nhanh chóng, hiệu quả.Nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia giành chính quyền và kéo vào cửa Thượng Tứ ngày 23/8/1945, ngày cách mạng thắng lợi tại Huế. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)Một nguyên nhân quan trọng nữa là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hội tụ ý chí tự lực, tự cường, khát vọng độc lập, tự do của toàn thể Nhân dân. Hơn 20 triệu đồng bào từ Bắc đến Nam đã nhất tề đứng lên, giành chính quyền nhanh gọn trong vòng nửa tháng.Cách mạng Tháng Tám là cuộc tổng khởi nghĩa được quần chúng nhân dân hưởng ứng mãnh liệt và chủ động tiến hành, thể hiện tinh thần yêu nước và niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng.Bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt NamThắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phátxít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời; thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhờ có thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Nhân dân Việt Nam đã thực sự “đổi đời,” từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam là bước nhảy vọt to lớn, là cuộc cải biến xã hội vĩ đại không chỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam mà của cả lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới.Không chỉ là một sự kiện mang ý nghĩa dân tộc, Cách mạng Tháng Tám còn có tầm vóc quốc tế sâu sắc. Đó là minh chứng sinh động cho chân lý: trong thời đại mới, các dân tộc thuộc địa có thể giành độc lập nếu có đường lối đúng đắn và biết khơi dậy sức mạnh toàn dân.Thắng lợi của Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ các phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và góp phần làm tan rã nhanh chóng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ.Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phátxít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời.Về phương diện lý luận, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự thể nghiệm thành công đầu tiên của chủ nghĩa Marx-Lenin tại một nước thuộc địa ở châu Á, đồng thời là kết quả trực tiếp của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là minh chứng cho thấy: một Đảng cách mạng chân chính, chỉ sau 15 năm thành lập, đã có thể lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng toàn dân, tạo nên sự kiện vang dội khắp năm châu.Thành công của Cách mạng tháng Tám mở ra một chương mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam đó là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Trong ảnh: Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đến dự "Ngày cứu quốc" tổ chức tại Nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 20/10/1945. (Ảnh: TTXVN)Khẳng định ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.” (4)Bài học của trí tuệ và bản lĩnh dân tộcThắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại những bài học quý báu, tiếp tục được kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.Trước hết, đó là bài học về vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Chính đường lối cách mạng phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, cùng với năng lực nắm bắt tình hình và xử lý linh hoạt của Đảng, đã dẫn dắt Nhân dân ta đến thắng lợi lịch sử. Bài học ấy hiện đang được vận dụng trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước: từ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến xây dựng nền ngoại giao hiện đại, hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.Thứ hai là bài học về nghệ thuật chớp thời cơ, hành động đúng lúc, đúng cách. Nếu tháng 8/1945 là khoảnh khắc “ngàn năm có một” để khởi nghĩa toàn dân, thì ngày nay, chúng ta cũng đang đối mặt với nhiều thời cơ lịch sử mới, từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến xu thế chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.Chỉ khi tận dụng được thời cơ, phát huy tinh thần hành động quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, mới có thể đưa đất nước vượt qua mọi trở lực và phát triển bền vững.Thứ ba là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh rằng khi cả dân tộc chung một chí hướng, cùng một mục tiêu thì không thế lực nào có thể khuất phục được. Hôm nay, yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên cấp thiết để vượt qua các thách thức trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.Thứ tư là bài học về sự chuẩn bị kỹ lưỡng và toàn diện. Thành công của Cách mạng Tháng Tám không phải là kết quả của một sớm một chiều, mà là thành quả của quá trình tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang, căn cứ địa trong nhiều năm. Trong bối cảnh hiện nay, đây chính là lời nhắc nhở về tầm quan trọng của công tác quy hoạch chiến lược, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học-công nghệ, cũng như củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.Thứ năm, Cách mạng Tháng Tám để lại bài học lớn về tinh thần tự lực, tự cường và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược gay gắt, Việt Nam càng cần phát huy nội lực, tăng cường nội sinh của nền kinh tế, đồng thời tranh thủ tối đa các cơ hội hợp tác quốc tế để nâng cao vị thế quốc gia.Tròn 80 năm đã trôi qua kể từ khi bản Tuyên ngôn độc lập vang lên trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, nhưng những bài học, giá trị và tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn luôn trường tồn cùng dân tộc; là điểm tựa tinh thần vững chắc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững bước trên hành trình xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng./.Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. (Ảnh: TTXVN)