Hướng dẫn công tác nhân sự Ủy ban Kiểm tra tại đại hội Đảng nhiệm kỳ 2025-2030

(Baohatinh.vn) - Hướng dẫn số 10-HD/UBKTTW ngày 16/12/2024 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương quy định công tác nhân sự ủy ban kiểm tra tại đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Số lượng, cơ cấu ủy ban kiểm tra
Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương
- Số lượng từ 09 đến 11 ủy viên (do cấp ủy quyết định), trong đó có 02 uỷ viên kiêm chức (trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức của cấp ủy là cấp ủy viên và chánh thanh tra tỉnh, thành phố), riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh số lượng từ 13 đến 15 ủy viên; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hoá, Tỉnh ủy Nghệ An số lượng từ 11 đến 13 ủy viên.
- Các ủy viên chuyên trách gồm: Chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ, có từ 02 đến 03 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên; riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh không quá 05 phó chủ nhiệm; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An không quá 04 phó chủ nhiệm.
Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương
- Số lượng từ 11 đến 13 ủy viên (do Quân ủy Trung ương quyết định), trong đó có từ 08 đến 10 ủy viên chuyên trách và từ 03 đến 05 ủy viên kiêm chức (bao gồm: Chủ nhiệm ủy ban là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Cục trưởng Cục Tổ chức; Cục trưởng Cục Cán bộ; Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng); có 02 đến 03 ủy viên là Ủy viên Quân ủy Trung ương.
- Các ủy viên chuyên trách gồm: 04 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên.
Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương
- Số lượng từ 11 đến 13 ủy viên (do Đảng ủy Công an Trung ương quyết định), trong đó có từ 08 đến 10 ủy viên chuyên trách và từ 03 đến 05 ủy viên kiêm chức (bao gồm: Chủ nhiệm ủy ban là Phó Bí thư hoặc Ủy viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, Thứ trưởng Bộ Công an; Cục trưởng Cục Tổ chức cán bộ, Chánh Thanh tra Bộ Công an); có từ 02 đến 03 ủy viên là Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương.
- Các ủy viên chuyên trách gồm: 04 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên.
Ủy ban kiểm tra các Đảng ủy trực thuộc Trung ương: Có hướng dẫn sau khi cấp có thẩm quyền quyết định thành lập.
Ủy ban kiểm tra của cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy
- Số lượng từ 07 đến 09 ủy viên (do cấp ủy quyết định), trong đó có 02 ủy viên kiêm chức (trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp ủy viên và chánh thanh tra quận, huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh).
- Các ủy viên chuyên trách gồm: Chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp ủy,có từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên.
Ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp trên cơ sở
- Số lượng từ 05 đến 07 ủy viên (do cấp ủy quyết định), trong đó có 02 ủy viên kiêm chức (trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp ủy viên và chánh thanh tra cùng cấp; nơi không có chánh thanh tra cùng cấp là đồng chí phó bí thư hoặc chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy trực thuộc).
- Chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp ủy, từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là chuyên trách) và một số ủy viên chuyên trách.
Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở
- Số lượng từ 03 đến 05 ủy viên (do đảng ủy cơ sở quyết định), trong đó phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ làm chủ nhiệm. Nơi không có ban thường vụ cấp ủy thì đồng chí phó bí thư làm chủ nhiệm.
- Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên hoặc đảng viên phụ trách công tác đoàn thể, bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân.
- Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở xã, phường, thị trấn; những tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan và doanh nghiệp có từ 300 đảng viên trở lên thì bố trí 01 ủy viên chuyên trách làm phó chủ nhiệm.
Đảng ủy bộ phận và chi bộ
Đảng ủy bộ phận và chi bộ không lập ủy ban kiểm tra; tập thể cấp ủy, chi bộ thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và phân công 01 cấp ủy viên phụ trách. Có thể lựa chọn phân công một số đảng viên giúp đồng chí cấp ủy viên phụ trách làm công tác kiểm tra, giám sát.
Số lượng, cơ cấu ủy viên đối với ủy ban kiểm tra của đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở và cấp cơ sở trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các Đảng bộ trực thuộc Trung ương có hướng dẫn riêng.
Tiêu chuẩn ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp
Tiêu chuẩn đối với ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp theo tiêu chuẩn cấp ủy viên cùng cấp được quy định tại Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó, nhấn mạnh một số tiêu chuẩn sau:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; trung thực, liêm khiết, công minh, chính trực, tận tụy, trách nhiệm, có chính kiến, có bản lĩnh, dũng khí đấu tranh.
- Có phẩm chất đạo đức, lối sống gương mẫu, trong sáng; thực hiện nghiêm quy định của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, giữ gìn đoàn kết nội bộ; kê khai tài sản, thu nhập trung thực, minh bạch; không cơ hội, tham vọng quyền lực, cục bộ, bè phái, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”,... Không để vợ hoặc chồng, con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi.
- Có năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tư duy đổi mới, tầm nhìn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả; nói đi đôi với làm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có kinh nghiệm trong công tác xây dựng đảng và hiểu biết về lĩnh vực kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng.
- Có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao và theo quy định của Đảng, Nhà nước; trình độ tin học, ngoại ngữ cần thiết và phù hợp.
- Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ.
Về độ tuổi
- Thực hiện tuổi giới thiệu ứng cử theo quy định của Đảng; bảo đảm tính kế thừa, phấn đấu có cán bộ nữ, cán bộ trẻ, người dân tộc thiểu số, căn cứ vào tình hình cụ thể các cấp ủy vận dụng bố trí cho phù hợp. Không vì cơ cấu mà hạ thấp chất lượng, tiêu chuẩn ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp.
- Nhân sự được giới thiệu để bầu tham gia ủy ban kiểm tra cấp ủy (chức vụ cao hơn), nhìn chung phải có thời gian giữ chức vụ đang đảm nhiệm (liền kề) hoặc chức vụ tương đương ít nhất 02 năm (24 tháng). Trường hợp đặc biệt, nếu nhân sự có thời gian giữ chức vụ từ 01 năm (12 tháng) đến dưới 02 năm (24 tháng) thì cấp ủy trực tiếp quản lý cán bộ phải tiến hành: (i) Đánh giá, nhận xét về phẩm chất, năng lực, uy tín, sản phẩm, kết quả cụ thể trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao đối với nhân sự; (ii) Quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình hoặc báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ xem xét, quyết định.
* Lưu ý: Trường hợp nhân sự đang giữ chức vụ, chức danh có cơ cấu tham gia ủy ban kiểm tra các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, thì không áp dụng thời gian giữ chức vụ ít nhất 02 năm theo quy định để giới thiệu tham gia ủy ban kiểm tra các cấp.
Nhân sự lần đầu tham gia ủy ban kiểm tra
Thực hiện độ tuổi như lần đầu tham gia cấp ủy cùng cấp theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW ngày 26/8/2024 của Ban Tổ chức Trung ương.
Nhân sự được giới thiệu tái cử
- Đối với nhân sự dự kiến giới thiệu tái cử giữ chức chủ nhiệm, phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy khóa mới thì thực hiện như cấp ủy được quy định tại Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW, ngày 26/8/2024 của Ban Tổ chức Trung ương.
- Đối với các đồng chí phó chủ nhiệm (trong đó có cả phó chủ nhiệm là cấp ủy viên, không còn đủ tuổi tham gia cấp ủy khóa mới) và ủy viên ủy ban kiểm tra còn đủ tuổi công tác từ 24 tháng trở lên (tính tại thời điểm tổ chức đại hội của mỗi cấp đến tháng nghỉ hưu). Thời điểm tính tuổi tham gia ủy ban kiểm tra các cấp là: Cấp cơ sở tháng 4/2025; cấp huyện và tương đương (gồm tất cả đảng bộ trực thuộc Đảng ủy Công an Trung ương) tháng 6/2025; cấp trực thuộc Trung ương tháng 9/2025, cụ thể:
+ Đối với cấp tỉnh: Nam sinh từ tháng 12/1965, nữ sinh từ tháng 5/1970 trở lại đây (trường hợp cán bộ nữ được nghỉ hưu ở độ tuổi 60 theo quy định của pháp luật thì sinh từ tháng 9/1967 trở lại đây).
+ Đối với cấp huyện: Nam sinh từ tháng 9/1965, nữ sinh từ tháng 02/1970 trở lại đây (trường hợp cán bộ nữ được nghỉ hưu ở độ tuổi 60 theo quy định của pháp luật, thì sinh từ tháng 6/1967 trở lại đây).
+ Đối với cán bộ, công chức cấp xã: Nam sinh từ tháng 7/1965, nữ sinh từ tháng 01/1970.
Về độ tuổi tái cử ủy ban kiểm tra đối với một số trường hợp đặc thù
Đối với lực lượng vũ trang: Độ tuổi tham gia ủy ban kiểm tra của cấp uỷ căn cứ vào độ tuổi nghỉ hưu quy định tại Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2024) và Luật Công an nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2023). Các đồng chí tham gia ủy ban kiểm tra của cấp ủy trong đảng bộ quân đội, công an tuổi tái cử phải đủ tuổi công tác ít nhất 1/2 nhiệm kỳ (30 tháng đối với nhiệm kỳ 05 năm); trường hợp đặc biệt còn tuổi công tác từ 01 năm (12 tháng) đến dưới 30 tháng, nếu có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín cao, sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên do cấp có thẩm quyền quyết định.
Đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp: Các đồng chí tham gia ủy ban kiểm tra của cấp ủy trong đảng bộ cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp; ủy ban kiểm tra của cấp ủy trong đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tài chính và ngân hàng thương mại nhà nước (hoặc nhà nước có cổ phần chi phối) còn tuổi công tác từ 01 năm (12 tháng) trở lên, do cấp có thẩm quyền quyết định.
Đối với những thành viên ủy ban kiểm tra không đủ tuổi tái cử nhiệm kỳ mới thì được thực hiện chế độ, chính sách như đối với cấp ủy viên không tái cử cấp ủy khóa mới theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW, ngày 26/8/2024 của Ban Tổ chức Trung ương.
Dừng việc bổ sung ủy viên ủy ban kiểm tra chuyên trách của cấp ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025 trước 06 tháng tính đến thời điểm bắt đầu đại hội đảng bộ ở mỗi cấp theo Chỉ thị số 35-CT/TW (tính theo thời điểm cơ quan có thẩm quyền nhận được văn bản đề nghị của cấp ủy). Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.


 

Tác giả bài viết: PV

Nguồn tin: baohatinh.vn

Lượt xem: 81

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.