Hà Tĩnh và “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng

Nếu nói “Đảng ta thật là vĩ đại” thì mỗi đảng bộ địa phương, mỗi ngành, mỗi đơn vị trong cả nước là một bộ phận quan trọng làm nên sự vĩ đại đó. Nếu nói lịch sử Đảng ta là “một pho lịch sử bằng vàng” thì lịch sử của mỗi đảng bộ địa phương, của từng ngành, đơn vị là những trang vàng chói lọi mà nên. Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh là một trong những trang chói lọi như vậy.

Với tất cả tinh thần khiêm tốn, người Hà Tĩnh có quyền tự hào về những đóng góp to lớn trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Trải qua thời gian, vượt qua không gian, trên mỗi tấc đất và từng con người Hà Tĩnh đều tạo dựng nên những dấu ấn lịch sử vô cùng kỳ diệu, trở nên những “hiện tượng” có một không hai trong lịch sử nước nhà và được nâng lên ở tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh.
 

 
Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du. (Ảnh: Đậu Hà).
 

Thật lạ kỳ, không ở đâu trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt “Sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa/ Ngăn bước quân thù phía Nam, phía Bắc”, lại hun đúc và sản sinh ra nhiều con người “làm nên lịch sử” đến như vậy. Sử xưa chép lại, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII có 148 vị đại khoa, 3 trạng nguyên; có nhiều người nổi danh như Danh nhân văn hóa thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du, mà “Kiệt tác của ông có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”.
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, chỉ vì ghét “Cái chí bon chen trong trường danh lợi” mà quyết chí theo học nghề thuốc giúp đời, giúp người. Ông trở thành Đại danh y, niềm tự hào của Hà Tĩnh nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam, được UNESCO vinh danh.
 

 

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - đại danh y, nhà văn hóa lớn của dân tộc.


Không ít những bậc danh nhân, hiền tài “tiếng thơm” còn mãi lay động lòng người, như: nhà viết sử Phan Huy Chú - bác học, danh nhân văn hóa, tài danh lỗi lạc về bách khoa thư; Nguyễn Công Trứ - nhà quân sự, nhà kinh tế, nhà thơ nôm trác việt; Nguyễn Biểu - nhà ngoại giao được xếp vào danh sách “bề tôi trung nghĩa” (triều Lê sơ), trở thành tấm gương tiêu biểu cho tinh thần dũng cảm của quân dân Đại Việt trong tình cảnh đất nước bị xâm lăng; La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp - một danh sĩ hơn đời, nổi tiếng uyên thâm, học cao hiểu rộng, cốt cách phi phàm…
Cũng rất ít ở đâu trên đất nước này, người dân tưởng như quanh năm chỉ lam lũ với vốn tri thức kinh nghiệm để lo miếng cơm manh áo, lại sản sinh ra những người con trung kiên, sớm giác ngộ tinh thần yêu nước, nhạy bén về chính trị, vượt qua mọi hiểm nguy, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, tổ chức, huấn luyện. Và rồi thế hệ thanh niên yêu nước ấy đều trở thành những hạt giống đỏ, những tấm gương cộng sản tiêu biểu có một không hai trong lịch sử cách mạng nước nhà.
 

 

Nhà lưu niệm, nơi lưu giữ hàng trăm hiện vật nói về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Tổng Bí thư Trần Phú.
 
Đó là Tổng Bí thư của Đảng trong thời kỳ đầu cách mạng - đồng chí Trần Phú với lời nhắn nhủ bạn bè “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”; đồng chí Hà Huy Tập - Tổng Bí thư của Đảng, người đã góp phần tích cực trong việc khôi phục lại cơ quan Trung ương của Đảng bị phá vỡ sau cao trào 1930-1931, tham gia chuẩn bị và tổ chức Đại hội Đảng I, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng lãnh đạo suốt 4 năm kể từ khi cao trào 1930-1931 bị thực dân Pháp “dìm trong biển máu”; hay ý chí, tinh thần của anh Lý Tự Trọng - người thanh niên cộng sản đầu tiên; người chiến sĩ cộng sản kiên trung, thế hệ học trò đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - đồng chí Lê Duy Điếm…
Trần Phú, Hà Huy Tập, Lý Tự Trọng, Lê Duy Điếm... là những hạt giống đỏ chuẩn bị cho quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và gây dựng phong trào cách mạng ngay từ khi còn thai nghén. Sự hy sinh anh dũng của các đồng chí ấy khi tuổi đời còn rất trẻ nhưng không hề uổng phí. Tên tuổi, công trạng của họ mãi mãi ghi đậm trong lịch sử hào hùng của Đảng bộ và Nhân dân Hà Tĩnh, đồng thời đi vào lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng ta như những trang chói lọi nhất.

 
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đến cuối tháng 3/1930, Đảng bộ lâm thời Hà Tĩnh được thành lập (tại Bến đò Thượng Trụ, xã Thiên Lộc, Can Lộc).
 

Cùng với những nhân vật ấy là những sự kiện lịch sử không thể phai mờ. Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đến cuối tháng 3/1930, Đảng bộ lâm thời Hà Tĩnh được thành lập (tại Bến đò Thượng Trụ, xã Thiên Lộc, Can Lộc), tiếp đó là các tổ chức quần chúng lần lượt ra đời. Nhờ đó, phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, hợp thành cao trào
Xô-viết Nghệ Tĩnh, đỉnh cao của phong trào cách mạng trong những năm 1930-1931. Đến cuối những năm 1930-1931, toàn tỉnh Hà Tĩnh có 170 làng Xô-viết được thành lập, ban bố quyền tự do dân chủ cho Nhân dân, kêu gọi thực hiện nếp sống mới, trừng trị các phần tử phản cách mạng. Tuy còn những hạn chế là “chưa đúng hoàn cảnh, bạo động trong lúc chưa có tình thế cách mạng, bạo động riêng lẻ” như Trung ương Đảng đã chỉ ra, nhưng cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 chính là cuộc diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho cách mạng giành chính quyền sau này. Vì thế, trong Tổng khởi nghĩa 1945, Hà Tĩnh là một trong 4 tỉnh giành được chính quyền sớm nhất cả nước.
Phát huy tinh thần Xô-viết Nghệ Tĩnh và Cách mạng Tháng Tám, trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Nhân dân Hà Tĩnh lại được hun đúc thêm chí khí và nghị lực phi thường, tiếp tục đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí, bằng tinh thần yêu nước và bằng lòng tự trọng. Đã có hàng ngàn, hàng vạn người con Hà Tĩnh xung phong tham gia dân công hỏa tuyến, TNXP, dân quân tự vệ… và cũng có hàng vạn người dân làm hậu phương vững chắc với tinh thần “xe chưa qua, nhà không tiếc”.
 


Xô viết Nghệ - Tĩnh là sự phát triển tất yếu của cao trào đấu tranh cách mạng của công nhân và nông dân cả nước trong những năm 1930-1931. Ảnh tư liệu.
 

Đặc biệt, trong Chiến dịch đông xuân 1953-1954, Hà Tĩnh có 56.000 dân công (chiếm hơn 1/2 số lượng dân công cả nước), góp phần đập tan “Pháo đài không thể công phá” của giặc Pháp, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng. Trong 10 năm (1965-1975) chống Mỹ cứu nước, Hà Tĩnh đã bổ sung một lực lượng lớn cho quân đội gồm 92.913 thanh niên (chiếm hơn 10% dân số lúc bấy giờ), huy động 334.128 dân công hỏa tuyến, 10.636 TNXP, bổ sung cho các chiến trường 21 tiểu đoàn, 15 đại đội bộ đội địa phương… góp phần quan trọng làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.
 


Chiến tranh lùi xa, truyền thống anh hùng, sáng tạo, kiên cường của người dân Hà Tĩnh tiếp tục phát huy trong xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
 

Chiến tranh đi qua, Đảng bộ và Nhân dân Hà Tĩnh đau xót với 25.625 người hy sinh, 11.636 thương binh, 7.705 bệnh binh. Tất cả các huyện, thị và 184 xã, thị trấn, 17 cơ quan, 34 cá nhân và 801 bà mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Những tên đất, tên làng trở thành biểu tượng của tinh thần quyết thắng, anh hùng như Ngã ba Đồng Lộc; “làng đỏ” Phù Việt; Nhà lao Hà Tĩnh… Đó là sự đóng góp vô cùng to lớn so với thực lực của Hà Tĩnh, góp phần viết nên “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng ta.
Những thanh niên trí thức Trần Phú, Hà Huy Tập, những Lý Tự Trọng, Lê Bình, Phan Đình Giót, Võ Triều Chung, 10 nữ TNXP hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc cùng hàng vạn anh hùng, liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, những người có nhiều cống hiến cho quê hương, đất nước đã trở thành biểu tượng chủ nghĩa anh hùng cách mạng để Nhân dân và tuổi trẻ cả nước mãi mãi tự hào, học tập, noi theo.
Chiến tranh lùi xa, truyền thống anh hùng, sáng tạo, kiên cường của người dân Hà Tĩnh lại được tiếp tục phát huy trong xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhất là từ sau khi tách tỉnh (1991), Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đoàn kết, nhất trí, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh phát triển KT-XH, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta làm nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử quan trọng.
KT-XH của Hà Tĩnh đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện, từ một địa phương nông nghiệp lạc hậu đã trở thành điểm sáng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng NTM. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, hệ thống chính trị từng bước được đổi mới. Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ngày càng vững mạnh, chính trị - xã hội ổn định, tạo ra thế và lực mới để Hà Tĩnh tiếp tục đi lên với nhiều triển vọng tốt đẹp.

 

Hà Tĩnh ngày càng phát triển hiện đại, văn minh.
 
Quyết tâm xây dựng Hà Tĩnh ngày càng giàu mạnh, “Hà Tĩnh phải làm sao cho tình hình nổi bật lên” như Bác Hồ hằng mong muốn, Đảng bộ và Nhân dân Hà Tĩnh tiếp tục phát huy truyền thống 95 năm kiên trung với Đảng, nêu cao tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo; khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực của địa phương, phát triển nhanh và bền vững. Nhất định, Đảng bộ và Nhân dân Hà Tĩnh sẽ viết tiếp những trang sử vẻ vang, góp phần làm phong phú và sinh động hơn nữa “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng quang vinh và dân tộc Việt Nam anh hùng.
 
 
 


 

Tác giả bài viết: TS Nguyễn Thành Vinh-nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Tuyên giáo

Nguồn tin: Báo Hà Tĩnh

Lượt xem: 94

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.