Chiến công hiển hách, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc

Không chỉ chấm dứt ách đô hộ kéo dài hàng thế kỷ, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn là biểu tượng rực rỡ của khát vọng tự do, quyền làm chủ và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam.

 

80-nam-cach-mang-thang-tam-15.jpg

Ngày 19/8/1945, sau cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn, quần chúng nhân dân Thủ đô đã đánh chiếm Bắc Bộ phủ, cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp ở Bắc Bộ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là chiến công hiển hách, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc. Không chỉ chấm dứt ách đô hộ kéo dài hàng thế kỷ, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn là biểu tượng rực rỡ của khát vọng tự do, quyền làm chủ và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam.

80 năm đã trôi qua, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của sự kiện trọng đại này vẫn vẹn nguyên giá trị, là nguồn cảm hứng và sức mạnh tinh thần to lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Chiến công hiển hách

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị công phu, được kết tinh từ phong trào yêu nước sôi nổi, liên tục và bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, tại thời điểm năm 1945, phong trào cách mạng Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao. Hàng triệu quần chúng đã sẵn sàng vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ, giành lấy quyền làm chủ đất nước. Các cuộc mít tinh, biểu tình, vũ trang thị uy do Việt Minh lãnh đạo trở thành “lửa thử vàng” cho ý chí độc lập của toàn dân tộc.

Ngày 9/3/1945, khi phát xít Nhật đảo chính Pháp nhằm độc chiếm Đông Dương, cục diện thuộc địa sụp đổ. Với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta lập tức ra bản chỉ thị lịch sử: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định rõ kẻ thù trước mắt là phát xít Nhật và phát động cao trào kháng Nhật cứu nước. Đây không chỉ là sự thay đổi chiến thuật, mà còn là bước ngoặt về tư duy hành động, chuẩn bị trực tiếp cho tổng khởi nghĩa toàn dân.

https://cdn.baohatinh.vn/images/941c48c3fa4cf8a807fa08e486e980521e23d1df69c38408950969ec562ecfaf6e6f67d4af31150d39d3c1a36d729f5de15abbf01ad0ba1b94413843edee525ba9cad1d2228180cc14a213f85f44339e/80-nam-cach-mang-thang-tam-15-1-4248.jpgCách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, phát xít; xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời; mở ra bước ngoặt lịch sử trọng đại, đưa đất nước Việt Nam từ một xứ thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Trong ảnh: Nhân dân ở nhiều địa phương nổi dậy đánh chiếm kho thóc của Nhật cứu đói. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, phát xít; xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời; mở ra bước ngoặt lịch sử trọng đại, đưa đất nước Việt Nam từ một xứ thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Trong ảnh: Nhân dân ở nhiều địa phương nổi dậy đánh chiếm kho thóc của Nhật cứu đói. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào để lãnh đạo phong trào cách mạng. Từ đây Tân Trào trở thành trung tâm căn cứ địa - Thủ đô khu giải phóng trong cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tại đây, lực lượng cách mạng không ngừng được củng cố, rèn luyện, tập dượt, chờ một thời cơ lớn để giật tung xiềng xích áp bức đã tồn tại hàng thế kỷ.

Tháng 8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, thời cơ lịch sử đã đến. Chớp đúng khoảnh khắc “ngàn vàng", Đảng ta triệu tập Hội nghị toàn quốc, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước, đồng thời thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc để lãnh đạo cuộc nổi dậy thần tốc.

Ngay sau đó, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào đã hợp thức hóa quyết tâm chiến lược đó bằng việc thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa và thành lập Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.” (1)

Khí thế cách mạng bùng nổ dữ dội, lan nhanh như cuồng phong. Từ đồng bằng đến miền núi, từ đô thị đến nông thôn, Nhân dân nhất loạt nổi dậy. Đặc biệt, khởi nghĩa thắng lợi ở ba đô thị lớn - Hà Nội, Huế, Sài Gòn - đã dập tắt những tàn dư cuối cùng của thực dân phong kiến, tạo nên hiệu ứng lan tỏa toàn quốc.

Chỉ trong vòng nửa tháng (từ ngày 14/8-28/8/1945), cuộc Tổng khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, chính quyền cả nước thuộc về tay Nhân dân.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập.” (2)

Sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” (Ảnh: TTXVN)

Sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” (Ảnh: TTXVN)

Không chỉ là văn kiện pháp lý khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Tuyên ngôn độc lập còn là lời thề thiêng liêng của dân tộc: “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” (3). Điều này đã được chứng minh rõ nét qua các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược sau này của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Sức mạnh làm nên chiến thắng lịch sử

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết tinh của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, là thành quả tất yếu của cả một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, kiên cường và sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là do đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo và linh hoạt của Đảng ta, xuất phát từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Trải qua những cao trào đấu tranh cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh, đến các phong trào 1936-1939 và 1941-1945, Đảng đã không ngừng rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện phương hướng chiến lược: đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xác định chính xác kẻ thù cụ thể trong từng giai đoạn, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn nhiệm vụ phản đế với phản phong.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám còn đến từ năng lực nhạy bén trong đánh giá tình hình và chớp thời cơ cách mạng một cách quyết đoán. Thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh (8/1945), Đảng ta đã kịp thời triệu tập Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào, phát động tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Việc chủ động phát động khởi nghĩa đúng lúc kẻ thù khủng hoảng và lực lượng cách mạng đã sẵn sàng là minh chứng điển hình cho bản lĩnh chiến lược và nghệ thuật lãnh đạo tài tình của Đảng.

Bên cạnh đó, thắng lợi này còn là kết quả của quá trình chuẩn bị lực lượng lâu dài và chu đáo cả về chính trị, vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Mặt trận Việt Minh đã xây dựng được phong trào quần chúng rộng khắp, gây dựng căn cứ kháng chiến vững chắc như căn cứ địa Việt Bắc, Tân Trào... Đây là những điểm tựa chủ chốt để chuyển hóa lực lượng chính trị thành lực lượng khởi nghĩa nhanh chóng, hiệu quả.

Nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia giành chính quyền và kéo vào cửa Thượng Tứ ngày 23/8/1945, ngày cách mạng thắng lợi tại Huế. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia giành chính quyền và kéo vào cửa Thượng Tứ ngày 23/8/1945, ngày cách mạng thắng lợi tại Huế. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Một nguyên nhân quan trọng nữa là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hội tụ ý chí tự lực, tự cường, khát vọng độc lập, tự do của toàn thể Nhân dân. Hơn 20 triệu đồng bào từ Bắc đến Nam đã nhất tề đứng lên, giành chính quyền nhanh gọn trong vòng nửa tháng.

Cách mạng Tháng Tám là cuộc tổng khởi nghĩa được quần chúng nhân dân hưởng ứng mãnh liệt và chủ động tiến hành, thể hiện tinh thần yêu nước và niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng.

Bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phátxít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời; thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhờ có thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Nhân dân Việt Nam đã thực sự “đổi đời,” từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.

Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam là bước nhảy vọt to lớn, là cuộc cải biến xã hội vĩ đại không chỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam mà của cả lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới.

Không chỉ là một sự kiện mang ý nghĩa dân tộc, Cách mạng Tháng Tám còn có tầm vóc quốc tế sâu sắc. Đó là minh chứng sinh động cho chân lý: trong thời đại mới, các dân tộc thuộc địa có thể giành độc lập nếu có đường lối đúng đắn và biết khơi dậy sức mạnh toàn dân.

Thắng lợi của Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ các phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và góp phần làm tan rã nhanh chóng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phátxít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời.

Về phương diện lý luận, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự thể nghiệm thành công đầu tiên của chủ nghĩa Marx-Lenin tại một nước thuộc địa ở châu Á, đồng thời là kết quả trực tiếp của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là minh chứng cho thấy: một Đảng cách mạng chân chính, chỉ sau 15 năm thành lập, đã có thể lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng toàn dân, tạo nên sự kiện vang dội khắp năm châu.

Thành công của Cách mạng tháng Tám mở ra một chương mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam đó là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Trong ảnh: Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đến dự "Ngày cứu quốc" tổ chức tại Nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 20/10/1945. (Ảnh: TTXVN)

Thành công của Cách mạng tháng Tám mở ra một chương mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam đó là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Trong ảnh: Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đến dự "Ngày cứu quốc" tổ chức tại Nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 20/10/1945. (Ảnh: TTXVN)

Khẳng định ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.” (4)

Bài học của trí tuệ và bản lĩnh dân tộc

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại những bài học quý báu, tiếp tục được kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Trước hết, đó là bài học về vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Chính đường lối cách mạng phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, cùng với năng lực nắm bắt tình hình và xử lý linh hoạt của Đảng, đã dẫn dắt Nhân dân ta đến thắng lợi lịch sử. Bài học ấy hiện đang được vận dụng trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước: từ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến xây dựng nền ngoại giao hiện đại, hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.

Thứ hai là bài học về nghệ thuật chớp thời cơ, hành động đúng lúc, đúng cách. Nếu tháng 8/1945 là khoảnh khắc “ngàn năm có một” để khởi nghĩa toàn dân, thì ngày nay, chúng ta cũng đang đối mặt với nhiều thời cơ lịch sử mới, từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến xu thế chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chỉ khi tận dụng được thời cơ, phát huy tinh thần hành động quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, mới có thể đưa đất nước vượt qua mọi trở lực và phát triển bền vững.

Thứ ba là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh rằng khi cả dân tộc chung một chí hướng, cùng một mục tiêu thì không thế lực nào có thể khuất phục được. Hôm nay, yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên cấp thiết để vượt qua các thách thức trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thứ tư là bài học về sự chuẩn bị kỹ lưỡng và toàn diện. Thành công của Cách mạng Tháng Tám không phải là kết quả của một sớm một chiều, mà là thành quả của quá trình tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang, căn cứ địa trong nhiều năm. Trong bối cảnh hiện nay, đây chính là lời nhắc nhở về tầm quan trọng của công tác quy hoạch chiến lược, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học-công nghệ, cũng như củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Thứ năm, Cách mạng Tháng Tám để lại bài học lớn về tinh thần tự lực, tự cường và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược gay gắt, Việt Nam càng cần phát huy nội lực, tăng cường nội sinh của nền kinh tế, đồng thời tranh thủ tối đa các cơ hội hợp tác quốc tế để nâng cao vị thế quốc gia.

Tròn 80 năm đã trôi qua kể từ khi bản Tuyên ngôn độc lập vang lên trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, nhưng những bài học, giá trị và tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn luôn trường tồn cùng dân tộc; là điểm tựa tinh thần vững chắc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững bước trên hành trình xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. (Ảnh: TTXVN)

 

Lượt xem: 107

Xem nhiều nhất

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Xây dựng Đảng 1 ngày trước

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)Nội dung Thông báo số 100-TB/VPTW, ngày 19/6/2026 nêu rõ: Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) trình bày dự thảo Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:1. Cơ bản thống nhất bố cục, nội dung đánh giá, nhận định trong dự thảo Báo cáo. Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn.Dự thảo Báo cáo đánh giá đầy đủ, toàn diện với kết quả nổi bật trong vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp; xác định những "điểm nghẽn", "nút thắt" cần được tháo gỡ, bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Bên cạnh những kết quả bước đầu, còn nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh. Bộ máy đã được sắp xếp nhưng chất lượng vận hành chưa đồng đều. Số lượng đầu mối tổ chức bộ máy đã giảm nhưng hiệu quả quản trị chưa đạt yêu cầu. Thẩm quyền được phân cấp song nguồn lực, năng lực và công cụ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn trong giai đoạn mới.2. Đồng ý thông qua nội dung Báo cáo sơ kết để trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến tại phiên họp ngày 26/6/2026. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng khẩn trương tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp và hoàn thiện Báo cáo sơ kết gửi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho ý kiến theo quy định.3. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục hoàn thiện Báo cáo để trình Hội nghị sơ kết toàn quốc (ngày 1/7/2026) theo một số nội dung gợi ý định hướng như sau:(1) Tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.(2) Đánh giá chi tiết, cụ thể về năng lực thực thi ở cấp xã so với nhiệm vụ được phân giao, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, công thương, nông nghiệp, môi trường, các lĩnh vực văn hóa-xã hội v.v… gắn với chỉ tiêu biên chế, số lượng cán bộ chuyên môn sâu, bố trí vị trí việc làm phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu thực tiễn.(3) Xác định rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định về một mô hình và khung phân cấp áp dụng trong thực tiễn địa phương khác nhau về trình độ phát triển, năng lực cán bộ, điều kiện địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin (nhất là đối với cấp xã theo các nhóm địa bàn đô thị, thành phố lớn khác biệt khu vực nông thôn, miền núi).(4) Đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp giữa phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực (nhân lực, kinh phí); trong đó, phân bổ nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã so với nhiệm vụ của cấp xã, phường.(5) Bổ sung nhận định, đánh giá về tổ chức, hoạt động của khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.(6) Đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp sau khi chuyển sang mô hình khu vực (sau khi kết thúc hoạt động của 3 tòa án cấp cao; 3 viện kiểm sát nhân dân cấp cao và kết thúc hoạt động của viện, tòa cấp huyện).(7) Bổ sung đánh giá về hiệu quả, tính tự chủ, tính hợp lý của mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp.(8) Đánh giá cụ thể, chi tiết về thực trạng hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trang bị cho chính quyền cơ sở (chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, chuyển đổi số; số lượng phần mềm nhiều, nhưng không tương thích, đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu kết nối, chia sẻ…, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới).(9) Đánh giá, làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh, sáp nhập một số xã, phường trên cơ sở rà soát các tiêu chí về diện tích, dân số, hạ tầng và năng lực cán bộ, yêu cầu phát triển, để phát huy lợi thế quản lý nhà nước theo quy mô và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.(10) Nghiên cứu, bổ sung thành lập đơn vị hành chính đô thị đặc biệt mang tính hạt nhân để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm.(11) Rà soát, nhận diện, đánh giá kỹ lưỡng các "nguy cơ" để có phương hướng, giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời:i) Cuộc cải cách về sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị mới chỉ dừng ở "giảm đầu mối" chưa phải là "bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ".ii) Sự chênh lệch chất lượng dịch vụ công giữa đô thị lớn với vùng sâu, vùng xa; giữa nơi có năng lực số tốt với nơi còn yếu.iii) Đội ngũ cán bộ cơ sở bị quá tải, áp lực lớn, dễ dẫn tới tâm lý sợ sai, né việc.iv) Ranh giới hành chính mới chưa thật sự phù hợp với không gian kinh tế, không gian đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch, vùng sinh thái và các hành lang phát triển.v) Người dân phải đi xa hơn, tiếp cận dịch vụ công khó hơn, mất nhiều thời gian, tốn kém hơn khi làm các thủ tục do tổ chức điểm phục vụ không hợp lý.