Nghị quyết số 10-NQ/TW, cơ hội để doanh nghiệp Hà Tĩnh tham gia sâu vào chuỗi giá trị FDI

(Baohatinh.vn) - Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ hướng tới thu hút thêm dòng vốn FDI mà còn chuyển mạnh sang kiến tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây là cơ hội để doanh nghiệp Hà Tĩnh tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.

Nhiều năm qua, ngành công nghiệp Hà Tĩnh có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực luyện thép, năng lượng, sản xuất vật liệu, công nghiệp chế biến... Tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng về vốn đầu tư vẫn tồn tại “khoảng trống” kết nối giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong tỉnh.

Doanh nghiệp Hà Tĩnh mong muốn được tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI.

Bởi vậy, cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đặt nhiều kỳ vọng về kết nối với doanh nghiệp FDI khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (gọi tắt là Nghị quyết số 10). Nghị quyết xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Điểm nổi bật của Nghị quyết số 10 là chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nghị quyết hướng đến lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng… làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước. Điều đó đồng nghĩa, doanh nghiệp Việt không còn chỉ là đối tượng hưởng lợi gián tiếp từ các dự án FDI mà được xác định là “mắt xích” quan trọng trong hệ sinh thái sản xuất và chuỗi cung ứng.

Theo ông Bùi Việt Phú - Trưởng phòng Doanh nghiệp và đầu tư, Sở Tài chính: Nghị quyết số 10 tạo ra khuôn khổ phát triển mới, trong đó chất lượng dòng vốn, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết với doanh nghiệp trong nước trở thành những tiêu chí cốt lõi. Nếu trước đây, hiệu quả thu hút FDI chủ yếu được nhìn nhận qua quy mô vốn đăng ký thì nay, trọng tâm đã chuyển sang mức độ lan tỏa công nghệ, năng lực quản trị, khả năng hình thành chuỗi cung ứng và đóng góp lâu dài cho nền kinh tế. Nội dung quan trọng của Nghị quyết số 10 là đưa doanh nghiệp trong nước vào vị trí trung tâm của quá trình liên kết và lan tỏa.

Từ những phân tích trên, ông Phú cho rằng, các điểm mới của Nghị quyết số 10 là cơ sở để doanh nghiệp Hà Tĩnh kỳ vọng có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI đang đầu tư trên địa bàn.

Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ vận tải Viết Hải đã cung ứng một số sản phẩm cho các doanh nghiệp FDI.

Thời gian qua, một số doanh nghiệp trong tỉnh đã cung cấp vật liệu, thiết bị, dịch vụ cho các dự án FDI. Tuy nhiên, phần lớn mới dừng ở các hợp đồng đơn lẻ, giá trị chưa lớn và thiếu sự hợp tác lâu dài về công nghệ hay phát triển sản phẩm.

Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ vận tải Viết Hải (phường Hà Huy Tập) chuyên sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng và đã cung ứng một số sản phẩm cho các doanh nghiệp FDI trong quá trình xây dựng hạ tầng. Tháng 12/2025, công ty ký biên bản hợp tác với Công ty TNHH TBM (Nhật Bản) và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II nhằm nghiên cứu, phát triển các sản phẩm vật liệu từ carbon.

Ông Trần Văn Viết – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ vận tải Viết Hải cho hay: “Cùng với Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, sự ra đời của Nghị quyết số 10 mở thêm kỳ vọng để doanh nghiệp địa phương tiếp cận những cơ hội hợp tác có chiều sâu với các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng tôi mong các chủ trương của nghị quyết sẽ sớm được cụ thể hóa bằng các cơ chế hỗ trợ thiết thực để doanh nghiệp địa phương có thêm cơ hội hợp tác với doanh nghiệp FDI, tham gia các dự án đầu tư và từng bước trở thành một “mắt xích” trong chuỗi cung ứng”.

Công ty CP Cơ khí công nghiệp Đức Tài (phường Trần Phú) đã sản xuất và cung ứng các chi tiết máy công nghiệp cho Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Tuy nhiên, sự hợp tác vẫn còn hạn chế, số lượng đơn hàng chưa nhiều và doanh nghiệp chủ yếu hoạt động độc lập.

Hoạt động sản xuất tại Công ty CP Cơ khí công nghiệp Đức Tài.

“Chúng tôi chưa được chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật hay nâng cao năng lực quản trị từ đối tác nước ngoài. Hà Tĩnh đang đẩy mạnh thu hút dự án FDI quy mô lớn, điều doanh nghiệp địa phương cần không chỉ là cơ hội bán hàng mà còn là cơ chế để được tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, được đào tạo, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghị quyết số 10 nếu được triển khai hiệu quả sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp Hà Tĩnh từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn của doanh nghiệp FDI, từ đó mở rộng cơ hội hợp tác và phát triển" - ông Nguyễn Hữu Cường, Giám đốc Công ty CP Cơ khí công nghiệp Đức Tài bày tỏ mong muốn.

Đến nay, Hà Tĩnh đã thu hút hơn 70 dự án FDI với tổng vốn đăng ký trên 16,6 tỷ USD, tập trung vào các lĩnh vực luyện kim, năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và hạ tầng. Dòng vốn FDI đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.

Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp trong tỉnh vẫn chưa tương xứng với quy mô đầu tư. Theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ khoảng 6% doanh nghiệp Hà Tĩnh có liên kết với khu vực FDI hoặc tham gia xuất khẩu trực tiếp, gián tiếp thông qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Đến nay, Hà Tĩnh có hơn 70 dự án FDI với tổng vốn hơn 16,6 tỷ USD.

Theo ông Nguyễn Đức Thắng - Phó Giám đốc Sở Tài chính: Thời gian tới, Hà Tĩnh tiếp tục đổi mới chính sách thu hút đầu tư theo hướng chọn lọc, ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ hiện đại, tạo giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường và có khả năng hình thành mạng lưới liên kết với doanh nghiệp trong tỉnh. Song song với thu hút đầu tư, tỉnh sẽ xây dựng cơ chế kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa thông qua các chương trình xúc tiến cung - cầu, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Mục tiêu không chỉ là tăng thêm số lượng dự án FDI mà quan trọng hơn, tạo ra những chuỗi liên kết sản xuất có tính bền vững, để doanh nghiệp Hà Tĩnh từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng khu vực và toàn cầu.

 

Lượt xem: 66

Xem nhiều nhất

Thủ tướng phê duyệt mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng - Hà Tĩnh

Kinh tế -Xã hội, QP-AN 1 ngày trước

Mở rộng ranh giới, diện tích KKT Vũng Áng để tạo quỹ đất, không gian, đầu tư phát triển cho tương lai.KKT Vũng Áng sau mở rộng diện tích khoảng 72.998 haTheo quyết định, quy mô Khu kinh tế Vũng Áng sau mở rộng có diện tích khoảng 72.998ha, gồm 57.998ha đất liền và 15.000ha mặt biển.Về ranh giới, phần diện tích đất liền gồm toàn bộ diện tích các xã/phường: Sông Trí, Hải Ninh, Vũng Áng, Hoành Sơn, Kỳ Hoa, Kỳ Khang, Kỳ Anh, Kỳ Xuân và một phần diện tích xã Kỳ Văn; tổng diện tích khoảng 57.998ha. Phần diện tích mặt nước mở rộng với quy mô khoảng 15.000ha.Ranh giới khu kinh tế sau khi mở rộng được xác định như sau: phía Bắc và Đông Bắc giáp biển Đông; phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị; phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp xã Kỳ Lạc và một phần xã Kỳ Văn.Mục tiêu phát triểnMở rộng ranh giới, diện tích Khu kinh tế Vũng Áng để tạo quỹ đất, không gian phát triển và đầu tư phát triển trong tương lai.Phát triển Khu kinh tế Vũng Áng thành khu vực năng động, trọng điểm của vùng kinh tế Bắc Trung Bộ; nghiên cứu triển khai các mô hình mới như Khu thương mại tự do, tạo đột phá thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh và các địa phương lân cận; tăng cường liên kết với các khu kinh tế, trung tâm kinh tế và các hành lang phát triển trong vùng và trên các tuyến giao thông quốc gia, quốc tế.Xây dựng Khu kinh tế Vũng Áng với các trụ cột: Công nghiệp luyện kim, năng lượng, chế biến, chế tạo; trung tâm logistics và dịch vụ cảng biển; phát triển thương mại, dịch vụ. Phát triển đồng bộ khu liên hợp công nghiệp luyện kim, công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo, trung tâm điện lực gắn với cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; đảm bảo hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường; thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từng bước phát triển trở thành cực phát triển trọng tâm phía Nam của tỉnh, liên kết phát triển vùng Nam Hà Tĩnh - Bắc Quảng Trị; hình thành các chuỗi liên kết, chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của khu kinh tế.Xây dựng Khu kinh tế Vũng Áng với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại gắn với cảng nước sâu; phát triển các loại hình dịch vụ logistics và vận tải, thương mại, công nghệ thông tin, du lịch, giáo dục, y tế,... chất lượng cao, kết nối thuận lợi với thị trường trong nước và quốc tế, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa của tỉnh; bảo đảm sự đồng bộ giữa phát triển các khu chức năng với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và khả năng đáp ứng về tài nguyên, năng lượng và các điều kiện thiết yếu khác.Triển khai một số công trình hạ tầng kỹ thuật - kinh tế - xã hội quan trọng của khu kinh tế. Tạo nhiều việc làm, tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; từng bước hình thành Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng; phù hợp với nhu cầu phát triển và khả năng huy động, cân đối các nguồn lực, thực hiện theo phân kỳ đầu tư.Hoàn thiện môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, thông thoáng; thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và sản xuất, kinh doanh tại khu kinh tế; thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, có khả năng liên kết, lan tỏa và phù hợp với định hướng phát triển của vùng, của tỉnh.Bảo đảm môi trường sinh thái, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh trên địa bàn khu kinh tế và khu vực phụ cận.Tính chất cốt lõi của KKT Vũng ÁngLà khu kinh tế trọng điểm, đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là công nghiệp cơ bản gắn liền với việc xây dựng và khai thác có hiệu quả khu bến Cảng Vũng Áng, Sơn Dương; đường sắt, đường bộ vùng, quốc gia và quốc tế.Là trung tâm kinh tế, đầu mối về giao thông vận tải, giao thương và giao lưu quốc tế quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ, cửa ngõ quan trọng của vùng Trung, Thượng Lào, Đông Bắc Thái Lan vào Miền Trung và Việt Nam;Là cực tăng trưởng, liên kết chặt chẽ và toàn diện với sự phát triển chung của tỉnh Hà Tĩnh và vùng Bắc Trung Bộ;Là khu kinh tế tổng hợp, có hạ tầng hiện đại, đồng bộ làm động lực phát triển cho vùng Bắc Trung Bộ. Có liên kết hỗ trợ và chia sẻ với khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, khu kinh tế Hòn La và các vùng phụ cận.Là khu vực phát triển hài hòa các mục tiêu kinh tế, văn hóa, môi trường và an ninh quốc phòng.Lộ trình và kế hoạch phát triểnGiai đoạn 2026 - 2027: Hoàn thành Quy hoạch chung khu kinh tế mở rộng và một số quy hoạch phân khu 1/2.000 đối với các phân khu quan trọng, tạo điều kiện để phát triển nhanh khu kinh tế trong giai đoạn sau; xây dựng và khởi công xây dựng một số cơ sở hạ tầng lớn; xúc tiến mạnh việc thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước. Thực hiện các công việc cụ thể sau khi Thủ tướng Chính phủ quyết định mở rộng/điều chỉnh ranh giới Khu kinh tế Vũng Áng.Giai đoạn 2028 - 2030: Bước đầu vận hành hiệu quả các công trình, dự án đã xây dựng; tiếp tục hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng đô thị, công nghiệp, dịch vụ trên toàn khu kinh tế; tiếp tục thu hút đầu tư các dự án vào khu kinh tế trong giai đoạn sau năm 2030; nghiên cứu triển khai một số mô hình khu công nghiệp, dự án sản xuất mới trong khu kinh tế.Giai đoạn 2031 - 2050: Hoàn thiện hệ thống kết cấu kinh tế, xã hội của khu kinh tế đồng bộ, hiện đại; đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa, hình thành diện mạo của đô thị đáng sống, xanh thông minh, với các dịch vụ chất lượng cao...Tổ chức thực hiệnUBND tỉnh Hà Tĩnh chịu trách nhiệm đảm bảo tính chính xác của thông tin, số liệu báo cáo, các nội dung tiếp thu, giải trình liên quan đến Đề án mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng; tiếp thu đầy đủ ý kiến các bộ, cơ quan có liên quan trong quá trình quy hoạch, đầu tư xây dựng và phát triển khu kinh tế;Chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát, đảm bảo các chỉ tiêu sử dụng đất trong khu kinh tế phù hợp với các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất quốc gia đã được cấp có thẩm quyền phân bổ cho Tỉnh, đảm bảo phù hợp với điều chỉnh quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh;Đảm bảo tính khả thi của phương án huy động vốn và phân kỳ đầu tư; xây dựng danh mục cụ thể các dự án ưu tiên đầu tư, đặc biệt các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong khu kinh tế, giao thông kết nối trong và ngoài khu kinh tế;Đảm bảo hiệu quả - kinh tế xã hội của khu kinh tế theo hướng phát triển bền vững thông qua giải quyết vấn đề an sinh xã hội, chuyển đổi việc làm cho người dân bị thu hồi đất. Thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ môi trường; giám sát chặt chẽ hoạt động đầu tư xây dựng, xả thải vào môi trường trong khu kinh tế theo quy định của pháp luật; phòng ngừa, ứng phó với thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu;Tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch chung khu kinh tế trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức lập và phê duyệt quy hoạch phân khu chức năng, đảm bảo kế thừa các quy hoạch đang triển khai thực hiện; bố trí quỹ đất xây dựng nhà ở, các thiết chế văn hóa, thể thao phục vụ công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, khu đô thị; không ảnh hưởng đến các di tích lịch sử, văn hóa và hoạt động tôn giáo của người dân;Thu hút đầu tư có chọn lọc vào Khu kinh tế Vũng Áng theo đúng định hướng phát triển vùng và liên kết vùng Bắc Trung Bộ, phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực theo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt, gắn với tiềm năng, thế mạnh của địa phương; thực hiện các giải pháp bảo đảm quốc phòng, an ninh trong khu kinh tế.Thủ tướng giao các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao, phối hợp, hỗ trợ UBND tỉnh Hà Tĩnh trong việc thực hiện Đề án mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng, các nhiệm vụ theo quy định pháp luật về khu công nghiệp, khu kinh tế và pháp luật có liên quan; thực hiện chức năng quản lý nhà nước, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát đối với việc phát triển Khu kinh tế Vũng Áng theo các lĩnh vực được giao.Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 3/4/2006 và Quyết định số 19/2010/QĐ-TTg ngày 3/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ.